Francis Bacon trong con mắt các nhà văn

15/10/2020 – Nhân dịp triển lãm Francis Bacon tại Trung tâm Pompidou hồi đầu năm, nhà văn-nhà phê bình nghệ thuật Frank Maubert có cuộc trò chuyện với kênh France-Culture về cuộc gặp gỡ với danh hoạ Francis Bacon.

Xin chào Frank Maubert, cảm ơn đã đến với chương trình. Anh đã viết về những cuộc trò chuyện với Bacon trong một cuốn sách nhỏ được nhà xuất bản Gallimard ấn hành.Ông ấy ưa thích nói về những chủ đề gì ?

F.M : Thực sự là Bacon thích nói về mọi thứ. Tôi khá ngạc nhiên ngay những lần đầu gặp gỡ, ông ấy nói về mọi thứ một cách rất đơn giản. Điều tôi rất phục ở ông ấy là dù thế nào ông ấy cũng rất yêu cuộc sống. Và ông hầu như là tránh nói về tranh pháo.

– Các anh đã nói chuyện về mọi thứ và cùng trải nghiệm một số thứ, thậm chí cả đi chơi, ăn nhậu cùng nhau.. Ông ấy xem ra là một người rất thích thưởng thức cuộc sống (un bon-vivant). Người ta hay nhắc đến sự nghiện rượu của ông ấy. Chắc ông ấy cũng từng tâm sự với anh về điều đó.. Có thể đó chỉ là kiểu như một món ưa thích hay có thể do một sự phiền muộn nào đó trong cuộc sống ?

F.M : Ồ không, chắc không phải do phiền muộn đâu. Nếu có phiền muộn thì rượu đã giúp ông ấy quên đi rồi còn gì. Nhất là khi vẽ ông ấy không uống rượu đâu, ông ấy bảo khi vẽ ông thường uống nước suối cơ, rượu chả giúp gì sất.

– Anh tin thế chứ ?

F.M : Vâng, khi ông ấy nói vậy thì tôi cũng cố tin (cười)

– Anh có nói là hai người đã có nhiều thời gian cùng nhau, nhưng hình như anh chưa bao giờ tận mắt thấy ông ấy vẽ phải không ?

F.M : Tôi tin rằng có rất ít người thực sự chứng kiến lúc ông ấy sáng tác. Thậm chí đôi khi tôi cũng có những ý nghĩ khùng khùng là chả hiểu có phải chính ông ấy đã làm ra các bức họa đó không nữa (cười). Đùa thế chứ tất nhiên là ông ấy rồi. Vì có một họa sĩ Maroc tên là Yacoubi đã tận mắt thấy ông ấy vẽ, và cũng nhiều người nói với tôi về điều đó.

– Francis Bacon – một họa sĩ không bao giờ cạn kiệt cảm xúc, như anh mô tả, đã từng nói: « dù gì thì người ta cũng không thể bàn về hội hoạ. Chả ích gì ! Nghệ thuật là một thứ luôn luôn dở dang ». Bacon cũng không thích người ta bàn luận về tranh của ông ấy. Ông ấy thường từ chối giải thích về tranh của mình. Phải chăng đó là khả năng duy nhất để nói về nghệ thuật của ông ấy ?

F.M : Duy nhất hay không thì tôi không biết. Nhưng có lần tôi đi gặp ông ấy với tư cách nhà báo để tìm hiểu một số điều mấu chốt trong hội hoạ của ông ấy. Ông ấy rất kiệm lời, bởi ông ấy cho rằng hội hoạ là một chốn bí ẩn và mỗi người đều tìm thấy ở đó một phần của mình, thế nên không phải ông ấy là người phải giải thích cái quái gì.

– Vì sao anh muốn gặp Bacon ? Anh đã từng nài nỉ để gặp ông ấy bằng được phải không ?

F.M : Lần đầu tiên tôi phát hiện một bức của Bacon, không phải ở một galerie hay bảo tàng mà là ở điện ảnh, trong một bộ phim đen-trắng ở Paris… Tôi đã thấy hình ảnh một người đàn ông khoả thân vặn vẹo dày vò.. Ngay khi nhìn thấy nó, tôi thực sự bị rung chuyển, và tôi muốn biết nhiều hơn, tôi tự nhủ tôi phải gặp người đã làm ra nó.
– Anh đã gặp ông ấy, và rồi hai người còn gặp nhau nhiều lần sau đó ?

F.M : Vâng, chúng tôi gặp nhau ở London, rồi Paris.. Ông ấy thường gọi cho tôi hàng ngày vào buổi sáng sớm khoảng 6h30. Tôi khá ngạc nhiên, thậm chí lúc đầu tôi còn nghĩ đó là một trò đùa..

– Bacon không phải là người đơn giản. Anh đã gặp ông ấy… Ông ấy vừa điên rồ vừa thiên tài nhỉ.

F.M : Đúng, đúng đấy, đó là một tính cách đa dạng. Ông ấy là người rất khó nắm bắt. Có thể nói đôi khi thậm chí là phi lý. Một họa sĩ phi lý vĩ đại..

– Một số nhà triết học cũng quan tâm tới ông ấy để tìm hiểu nhưng có vẻ ông ấy chả mặn mà gì. Riêng với anh, ông ấy đã tâm sự khá nhiều, đặc biệt là các cảm hứng sáng tác.. thậm chí cả những gì ông ấy đọc. Ông ấy đã nói với anh về những tác giả và những cuốn sách quan trọng với ông ấy ?

F.M : Ông ấy có nói về các tác giả khác nhau, trong đó khá nhiều nhà thơ. Bởi vì thơ là một sự cô đọng các ý tưởng cho ông ấy những loé sáng .. Nhưng không chỉ thế, không phải chỉ là cac tác giả lớn như Eliot hay Shakespeare, mà còn cả những hình ảnh trong phim, trong sách báo cũ .. được cảm nhận và diễn dịch theo cách riêng của ông ấy..

– Nhiều tác phẩm triển lãm kỳ này được sáng tác vào thập niên 70, không thể tìm các mối liên hệ trực tiếp giữa văn học và sáng tác của ông ấy. Có thể nói, có gì đó như là sự chuyển hoá ngôn ngữ viết thành hình ảnh trong nghệ thuật của ông ấy, được giải phóng thành các hình tượng ?

F.M : Đúng rồi, đó là một sự giải phóng.. đặc biệt ông ấy tìm kiếm những hình ảnh rất dữ dội trong những gì mà ông ấy có thể đọc.

Trích đoạn một cuộc phỏng vấn Bacon :
Francis Bacon :  » ừ tôi biết, tôi tạo ra nhữnh hình ảnh.. thế đấy.. những người khác có thể nói cái họ nghĩ về tranh tôi. Còn đối với tôi, khi vẽ xong thì tôi để đó và không nghĩ nữa ».
– Tôi thấy rằng một trong các bức chân dung ông vẽ Michel Leiris, người ta có thể nói ông phải cảm nhận sâu sắc về ông ấy thế nào mới ra được như vậy.
Francis Bacon : « Tôi hy vọng thế, tôi cũng không biết nữa. Thế đấy ! Nhưng tôi vui là anh đã nghĩ vậy. Này anh, tôi vẽ những bức tranh này cho chính tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ sống bằng tranh đâu. Tôi vẫn nghĩ sẽ cố gắng làm việc khác ».
– Tôi biết là ông đã huỷ khá nhiều bức họa.
– Francis Bacon : Ừ.. cũng kha khá..
– Ông là một hoạ sĩ rất khó tính và đòi hỏi cao với chính mình ?
– Francis Bacon : « Cần phải vậy .. mà anh biết đấy, trong hội họa, những người sáng tạo giỏi đều là những nhà phê bình rất ác. »

– Ông ấy huỷ tranh.. Ông ấy đã rất nghiêm khắc với bản thân, hay ít ra là với chính các sáng tác của mình.

F.M : Vâng, ông ấy huỷ khá nhiều tranh. Ông ấy cũng nói với tôi như vậy..

– Vì sao thế ?

F.M : Vì sao ư ? Bởi vì tôi nghĩ ông ấy có những suy nghĩ khá sâu về nghệ thuật, đặc biệt là hội hoạ.. Vào khoảng thập niên 20 khi thấy những bức tranh của Picasso, có gì đó đã xảy ra trong ông ấy, ông ấy nói muốn trở thành hoạ sĩ. Trước đó ông làm về nội thất…

– Dù sao ông ấy cũng đã được công nhận khá sớm, chứ không bị hắt hủi, bị lãng quên như nhiều họa sĩ đương thời khác..

F.M : Không, không giống như đời Vangogh đâu… dù sao cũng có khá nhiều điểm chung với Vangogh đấy nhé, chẳng hạn trong những chấm phá, trong cách vẽ.. cũng gần gần một vài hoạ sĩ khác nữa, nhưng nhìn chung cũng có khá nhiều nét Vangogh trong đó.

– Người ta từng bàn luận về những ảnh hưởng văn học trong các sáng tác của ông ấy và tự hỏi không hiểu có sự diễn dịch hình tượng trong tranh từ ảnh hưởng văn học qua những gì ông ấy đã đọc không, nhưng có một bức tranh mà sau này anh phát hiện trong xưởng vẽ của ông ấy, bức đó có cảm hứng trực tiếp từ thơ của Garcia Lorca về cái chết đúng không ?

F.M : Vâng, ông ấy có nói với tôi lúc đó. Ông ấy mời tôi tới xưởng vẽ, nói là xưởng chứ đó là một căn phòng nhỏ như nhiều căn phòng bình thường khác thôi. Ông ấy đang vẽ dở bức đó và định quay nó úp vào tường để tôi khỏi thấy. Thế là tôi hỏi luôn: cái gì thế ? Ông ấy bảo: .. à, đó là bài thơ của Garcia Lorca về cái chết của con bò tót. Cực kỳ dữ dội và kinh hoàng… Ông ấy nghiên cứu sự tàn bạo, ông ấy cho rằng cuộc sống rất tàn nhẫn và vẽ như thế là còn nhẹ hơn hiện thực rất nhiều…

– Đúng là chúng ta thấy các chủ đề trong tranh ông ấy về sự tàn bạo, về cơ thể con người, sự dễ tổn thương, về cái chết, và thân phận con người..

F.M : Đúng đấy, có thể tóm gọn lại là những thân phận con người… Hiển nhiên là vậy.

– Tôi không biết anh có sở hữu một bức Bacon ở nhà không..

F.M : Ồ, không không… (cười bối rối)

– Có thể là một bức chép lại hay affiche trong phòng khách chả hạn ?

F.M : Không, trước đây tôi có một bức trong nhà tắm.. (cười)

– Nếu như phải chọn một bức của Bacon, anh sẽ nói…

F.M : Có thể là một bức về Đóng đinh trên thập giá hay một bức về sóng biển ông ấy vẽ giai đoạn cuối, hay là một nhân vật kiểu chủ ngân hàng… nhưng dù gì thì nó cũng kể câu chuyện về sự khốc liệt của các bản thể, trong những trạng thái thất thần, cô đơn tuyệt vọng … Ngay cả khi ông ấy vẽ một con vật như con chó chả hạn ..

– Những khốc liệt thực tế đó trong đời sống đã tác động ông ấy .. Bacon cũng ảnh hưởng nhiều từ văn học, nhưng chính ông ấy cũng là nguồn cảm hứng cho các nhà văn. Vậy anh thấy gì ở ông ấy ? Có sự đồng điệu nào mà anh đã kết nối và phát triển cùng ông ấy ? Có vẻ cũng khá trầm và nặng phải không ?

F.M : Vâng, khá nặng đấy ! Không có sự thư giãn ở tranh của Bacon đâu, nhưng nó rất tuyệt vì có biết bao thứ mà ta có thể tưởng tượng, nó vừa vô lý vừa bí ẩn.. nó cho những khả năng mà mỗi người đều có thể thấy mình ở đâu đó…Mà không phải là chỉ tưởng tượng đâu. Cuộc sống riêng của ông ấy thậm chí còn tệ hơn cả những gì ông ấy vẽ nữa ý chứ, ít nhất cũng có 3 vụ tử tự kinh khủng của những người gần gũi thân cận nhất với ông ấy ..

– Vâng, như anh viết, ông ấy dễ vỡ, nhưng cũng cực kỳ lịch lãm và nồng hậu. Người ta cũng không thể tả ông ấy như yêu quái được 🙂

F.M : Tôi nghĩ rằng ông ấy có tính cách đa đạng, nhiều góc cạnh. Ông ấy hoàn toàn có thể là một người lịch lãm, tế nhị ở mặt này, và rồi bốc đồng, hung hăng ở một mặt khác.

Trích lời Bacon: « Tôi vẽ theo figuratif (phong cách biểu hình) bởi vì tôi chả quan tâm đến trừu tượng, và tôi nghĩ mục đích của hội họa không phải là để trang trí. Nên nhớ, nghệ thuật là nhân tạo. Ừ cũng có một khía cạnh trừu tượng nào đó, nhưng figuratif muốn đi xa hơn, bởi vì sau cùng thì trừu tượng chả có lý gì trong khi với figuratif ta luôn có lý do để bắt đầu và trở lại, trở lại với sự thật bằng cách đi vòng, một đường vòng lớn.. »

– Bacon đã đi một vòng lớn. Còn nhà văn Maubert thì từng kể về những tai nạn, sự tình cờ, tính ngẫu nhiên.. trong quá trình sáng tạo của ông ấy.

F.M : Điều đó rất quan trọng. Người ta đã nói nhiều về các sự kiện tình cờ, những tai nạn trong cuộc đời ông ấy. Ông ấy cũng là một tay chơi lớn đấy nhé. Ông ấy từng chơi sòng bài nơi mà phần nhiều là các ngẫu nhiên may rủi tình cờ, so với các trò khác..- Người ta có thể nói về tranh Bacon, về những góc tăm tối tàn bạo nơi con người. Ông ấy lột trần sự tàn bạo .. Có gì đó gần với Caravage ở mức độ căng thẳng, như ông ấy vẫn nói « chạm tới hệ thần kinh của nguời xem ».

Olivier-Giesbert : « Tôi rất phục Bacon, nhưng tôi nghĩ gần như là không thể nào mà yêu đuợc. Thật khủng khiếp khi phải thấy những gì trong tranh của Bacon..Tôi không biết có chịu được không. Tôi thích sống trong thế giới của Cézanne, có lẽ tôi thích sống trong những bức tranh bình yên hơn.. Chứ mà có một bức của Caravage hay Bacon trong nhà thì … kiểu như bắt buộc phải nghĩ về cái chết từng giây phút một ý. »

Nhà văn Yannick Haenel: « cái yếu tố kịch tính trong tranh của Caravage từ nền đen sẫm của thế kỷ 16, chúng ta thấy lại trong tranh Bacon, hoàn toàn cách biệt với tính lý tưởng hoá. Tôi nghĩ cả Caravage và Bacon đều căm ghét chủ nghĩa lý tưởng. Họ từ lâu đã hiểu thời Phục Hưng qua rồi, và sự hoà hợp của đời sống với trang trí chỉ là giả dối. Cả hai đều chống lại sự giả dối đó bằng hành động. Cơ thể thì trần trụi , bộ phận sinh dục phơi ra đó, tính khốc liệt tự nó mang sự liên kết xã hội.. Và họ vẽ điều đó chứ không phải là yêu thích điều đó. Họ không phải là những người đứng về phía thiện hay phía ác. Cũng như nhiều nghệ sĩ lớn khác, họ chứng kiến một cách mãnh liệt những gì diễn ra. »

Vẽ – đối với Bacon là một nhu cầu sống còn, như anh cũng đã nói: « Nghệ thuật là một tiếng thét để tuyên chiến với sự ngột ngạt. »

Bài hay quá nhưng dài nên tạm dịch các ý chính để lưu giữ. Bạn nào cần thì xem bản gốc ở đây nhé.

https://www.youtube.com/watch?v=fZTO3nK11ds

Diogenes – nhà triết học cá tính nhất Hy Lạp

Alexandre Đại đế là nhân vật nổi tiếng nhất thời La Mã cổ đại với các trận chinh phạt mở rộng lãnh thổ tới tận Trung đông, thậm chí cả một phần vùng ngũ hà của Ấn độ, sát nhập hơn 70 thành phố trong đó chiếm Alexandrie năm 331. Diogenes là nhà triết học cá tính nhất Hy Lạp thời đó. Hơn 300 năm trước công nguyên, Diogenes đã tuyên bố mình là công dân thế giới và không muốn bám vào một nơi nào. Có hôm Ngài còn thắp một cái đèn đi vào phố giữa ban ngày « để tìm một con người trung thực » 🙂 Theo truyền thuyết, Alexandre Đại đế đã tìm tới thăm Diogenes khi ông đang sưởi nắng. Cảm phục thần thái và khí chất của Diogenes, Alexandre Đại đế có ngỏ lời muốn giúp gì đó cho nhà triết học nổi tiếng này (vì ông hay sống đời lang thang khất thực). Diogenes chỉ nói: Ít nhất ngài có thể dịch sang một bên được không ? Ngày đang đứng che ánh nắng của tôi  » . Cảm phục sức mạnh tự tại của Diogenes, Alexandre Đại đế thốt lên: Nếu ta không phải Alexandre Đại đế, ta ước được là Diogenes ! Nhiều nguồn tin cho rằng cả hai nhân vật nổi tiếng này chết cùng ngày. Có điều Diogenes lúc đó khoảng gần 90 tuổi, còn Alexandre lúc đó 33 tuổi, chết do bị sét đánh. Điều trớ trêu là sau khi chết, đế quốc hùng vĩ của ông đều bị các tướng lĩnh chia cắt ra thành các quốc gia nhỏ 🙂 Hai trăm năm trước đó, phía bên kia địa cầu, Lão Tử đã nhận biết: Không dám đứng trước thiên hạ thì mới làm chủ được thiên hạ… Người giàu là người biết đủ, người giỏi là người biết dừng đúng lúc. (27/3/2019)

(tranh minh hoạ: cuộc gặp gỡ giữa Diogenes và Alexandre (tranh của Cornelis de Vos, họa sĩ Bỉ, phái Baroque)

Tôi ngồi mẫu cho Picasso

Phải kể ra chuyện này cũng ngượng thật. Mà không thể tin nổi đó là tôi nhé. Chưa kể  là tôi đã không hề nằm phô ra cái kiểu như vậy. Trong hình nhìn tôi có vẻ không được tự nhiên lắm. Nói thẳng ra, trông như thằng pê đê !

Hồi đó tôi mới có 23 tuổi . Tôi sống giữa khu Mougins và Valbonne, ở nhà bố mẹ, những người Ý nhập cư . Hiển nhiên, tất cả mọi người trong khu đều biết danh Picasso. Người ta vẫn biết là đôi khi ông gặp đám thanh nữ ở chợ và mời họ làm mẫu cho ông vẽ. Tất nhiên là cũng có những người muốn thử xem sao. Hồi đó người ta thường gọi việc đó là “Picasting”. Tôi cũng quen một cô gái đã từng ngồi mẫu cho Picasso. Nói chung đa số là gái thôi. Rồi thế quái nào mà cuối cùng nó lại rơi vào tôi. Cần phải nói là tôi có hình thể của một vận động viên đấu vật. Hồi năm 1971 khi tôi còn là cậu nhóc, thể thao đã khá phổ biến rồi. Người ta tổ chức các trận bóng cho bọn trẻ ở những hội phường, ít bạo lực hơn, nhưng cũng không khác mấy trò của những thằng hề. Hồi đó tôi chả khoái gì bọn trẻ ranh. Mỗi khi nghe bọn chúng cười phá lên, tôi hay có cảm giác chúng giễu mình. Nói chung hồi đó tôi khá quậy.

Rồi, giờ lại còn Picasso nữa, khỉ thật, thôi được, tôi sẽ không từ chối. Ông ấy  hẹn tôi  trong xưởng vẽ  phía  sau nhà ông. Rất nhanh, tôi phải khỏa thân hoàn toàn và nằm dài ra. Và ông ấy vẽ. Thời gian bằng một điếu thuốc treo trên miệng ông. Khi người ta nói rằng ông ấy có 90 chiếc tẩu, tôi không tin. Hôm đó ông mặc quần soóc, áo kẻ carô, ánh mắt sắc nhọn, pha chút giễu cợt. Cũng có thể ông ấy giễu tôi thật.

Trước khi tôi về, ông vẽ khuôn mặt tôi. Có thể nói đó là sự pha trộn giữa đầu của một con người và một con vật. Một người bạn có hiểu biết về hội họa nói với tôi rằng đó là một lọai thú hoang. Khi về đến nhà, tôi hơi cảm thấy xấu hổ. Tôi không nói gì với bố mẹ . Ngồi mẫu khỏa thân lông lá như thế, dù là ngồi cho Picasso vẽ đi nữa, theo bố tôi thì cũng chả khác gì con điếm. Tôi giấu bức họa trong tờ l’Equipe, vì hồi đó bố tôi thường hay đọc tờ này.  Đó là trang mà người ta nói về Eddy Merckx, người  giành giải cuộc đua xe đạp vòng quanh nước Pháp lúc bấy giờ, và ở cuối trang có mẩu quảng cáo của Petrole Hahn. Tôi vẫn chưa quên cái số báo đó, rồi các bạn sẽ hiểu vì sao. Tôi đã giấu tờ báo đó trên nóc tủ quần áo. Nếu có thể giấu được cả cái tủ, chắc tôi cũng đã giấu luôn.

Picasso chết 2 năm sau đó và cha mẹ tôi cũng lần lượt ra đi, cứ như là họ hẹn nhau ấy. Đầu những năm 80, tôi cùng vợ dọn đến ở khu ngọai ô thành phố Nice. Chúng tôi sống trong một tòa tháp cùng với một con mèo. Một hôm tôi đi làm về và nhìn thấy tờ l’Equipe trong đống lộn xộn. Vợ tôi đã lót nó bên dưới thức ăn cho mèo. Chúng tôi vẫn thường đặt một tờ báo phía dưới như thế để thấm ẩm. Và hôm đó, con mèo của tôi đã ị một bãi lên ngay bức họa của Picasso.

Khi tôi kể lại câu chuyện này, ai cũng cho tôi là có vấn đề về thần kinh. Họ nói tôi bịa. Tôi không có bằng chứng, bức họa thì có lẽ lưu lạc đâu đó, nhưng tôi không thể biết nó ở đâu. Tôi gọi điện cho bảo tàng để hỏi. Họ nói với tôi là Picasso vẽ rất ít mẫu nam khỏa thân. Vẽ cặp đôi khỏa thân thì có, nhưng mẫu nam khỏa thân một mình thì rất hiếm.

Rồi một ngày, trên Internet, tình cờ tôi nhìn thấy một bức tranh. Lúc đầu tôi nghĩ đó là người khác. Nhưng thật lạ lùng, tôi nhận ra chính mình. Giống như một người bị bỏng nhìn lại mình trong gương lần đầu.  Nhận ra mình, nhưng bị biến dạng. Mà không chỉ khuôn mặt bị biến dạng đâu nhé. Nó trông cứ như một con gà bị banh ra… Hai bàn tay to như lá cọ, hai bàn chân như con voi… Kìa sao ông ta lại còn  bớt ngón chân của tôi đi nữa, lão già này… Bất chợt tôi thấy lo lắng. Rồi tôi đếm lại từng ngón chân mình,  tôi đủ 10 ngón chân mà… Nhưng cái khiến tôi thấy phiền lòng nhất chính là một cái chấm đen nho nhỏ. Đó là hậu môn của tôi ! Trời ạ, thề là tôi không hề giơ hậu môn  ra cho ông ấy  xem. “Nghệ sĩ” quái quỉ gì thế này, tôi chả chìa cái của nợ ấy ra cho ai xem bao giờ. Ngay cả khi đi  nội soi đại tràng, bác sĩ cũng phải van xin mấy lần tôi mới để cho khám một tí. Thế mà….

Sau này , tôi tìm lại được số tạp chí l’Equipe đó ở một hiệu sách cũ. Thỉnh thoảng tôi cũng mua tạp chí l’Equipe để đọc,  và tưởng tượng bức tranh vẫn ở đó.

(Tạp chí Mỹ thuật Pháp, tháng 3 năm 2014)

*Tác giả Jonathan Lambert là cây bút viết truyện hài của tạp chí Mỹ thuật Pháp.
Tranh: “Người đàn ông khỏa thân nằm” (L’homme nu couché), Picasso – 1971

Ai là khán giả ?

“Allô, anh có thể đi thay tôi chiều nay không ? Tôi có chút việc nên kẹt không đưa khách đi Grand Palais được…”

Khi từ Singapore trở về sau một công việc tình nguyện, tôi tìm ngay được một job không khó khăn gì. Với chút tiếng Hoa bập bõm kiểu « giọng Quan thoại” rất ấn tựơng trên bản tự giới thiệu, thế là tôi được nhận làm cho hội thảo của các nhóm tham quan bảo tàng có hướng dẫn. Những nét chính về tiểu sử và một vài thông tin trên mỗi tác phẩm là đủ để làm một chuyên gia roài . Tôi kể lể nào Rodin, Van Dongen, Monet… như những thằng ma cô vẫn làm để đổi lấy mấy cái phim con heo.

Trong thời gian diễn ra cuộc triển lãm về Valloton, tôi phải đi hướng dẫn một nhóm khách Trung Quốc. Có thể nói đó chả phải là những khách cao cấp gì. Không phải những kẻ nướng các đồng nhân dân tệ trong những cửa hàng của Louis Vuitton. Trong metro, tôi tranh thủ tìm tiểu sử nhóm Nabi. Xong, tôi biết đu đủ để làm họ mê hoặc. Tôi bắt đầu tour quen thuộc của mình: vào Paris, đi thăm Academy Julian, đi xem Vuillard. Nhóm khách nói chung có vẻ rất trật tự nghe tôi thuyết dẫn, trình bày, trừ một lão nhỏ con đầu hói bóng nhẫy. Lão ta ngắt lời tôi và chêm vào là Vallotton từng là học trò của Gustave Boulanger, nào là phương Đông có lẽ đã ảnh hưởng đến ông ta…
Im lặng.
Tôi điều chỉnh: “Vâng, có thể, có lẽ là…”
Mọi người ném cho tôi một cái nhìn đầy buộc tội. “Anh có thể kể cho chúng tôi chứ về điều đó chứ?” – tôi đọc được điều đó trong mắt đám khách.

Chúng tôi tiếp tục đi lướt qua những bức sơn dầu của họa sĩ và dừng lại ở bức La loge de theatre.
Tôi phân tích nhanh tác phẩm trong đầu, lèo lái giữa những cái đã rõ rành rành với sự tự do liên tưởng, rồi phán với một câu hỏi mở: “Đây, nhất là bức tranh này, nó đặt ra câu hỏi: ai là khán giả? Họ hay là chúng ta?

Vâng, nhưng cái mà tôi chưa nói – lão hói đầu rùa lại ngắt lời tôi , với một giọng rõ ghét – “rằng Vallotton là tác giả của hàng chục vở kịch; cũng có thể đó là một lúc mà ông ghé qua nhà hát.

Nhận xét này quẳng một sự mất tin tưởng hoàn toàn vào những bình luận của tôi. Tôi vẫn cố gắng nhã nhặn và tiếp tục công việc, nhưng cảm thấy họ không tôn trọng người hướng dẫn nữa. Thậm chí một số khách còn tách hẳn ra để bình luận những bức tranh ở cuối phòng triển lãm.

Cuối buổi dẫn khách, tôi bám gót lão hói đi vào toilette, đảm bảo cho không ai nhìn thấy. Tôi vỗ vai lão ta quay lại và tát cho lão ta một cái vào mặt. Lão ta trừng mắt nhìn tôi, năm ngón tay tôi in trên má lão như cái quạt màu hồng. Tôi quay gót và đi tới chỗ lấy áo khoác của mình. Khi tôi bước ra, nhóm khách đang la lối, tôi bị xốc nách bởi hai cảnh sát. Nên nhớ rằng Grand Palais cũng là trụ sở của cảnh sát nữa. Lạ thật, sao mà nghệ thuật với cảnh sát lại hay cùng chung mái nhà thế nhỉ.

Tôi giả mặt ngơ ngác: Gì thế này? Sao lại thế? Sao lại tôi?… Anh nói quái gì thế? Bằng chứng đâu?” . Một nhân viên an ninh được gọi tới. Và thế là hết!

”Bức tranh này đặt câu hỏi: ai là khán giả? Họ hay chúng ta?” Giờ thì tôi đã có câu trả lời. Khán giả thực thụ, đó chính là gã nhân viên an ninh ngồi dí mắt cả ngày trên màn hình kiểm soát.

(dịch từ Tạp chí Mỹ thuật Pháp – tháng 1 /2014)
*Jonathan Lambert là cây bút chuyên viết chuyện hài về các tác phẩm nghệ thuật
* Tác phẩm “La loge de theatre

Trong khi trường phái Ấn tượng dùng ánh sáng và sự tách màu một cách khoa học để thể hiện ám ảnh về hình, thì những họa sĩ theo phái Nabis lại thích làm việc dựa theo phương cách nhiều tính chủ quan hơn. Vallotton – một thành viên của phái này – thường tránh khai thác những khía cạnh tự nhiên về nguồn và hướng (của ánh sáng), về đổ bóng, hay về những sự đa dạng (về ánh sáng) có liên quan đến giờ giấc và mùa…

Không phải ánh sáng là một yếu tố không mấy quan trọng đối với Valloton, nhưng nó được ông xem xét một cách tự do hơn, nội tại hơn.

Nên nhớ là họa sĩ đã từng tìm cách ghi lại sự bức xạ của mặt trời, sự phát và thu ánh sáng đơn: ví dụ như ánh sáng của những không gian bên trong nhà, ánh sáng nhân tạo của điện hay đèn dầu, không khí hội đêm, tương phản sáng-tối.

Bức tranh “La loge de theatre” vẽ năm 1909 là một cảnh tập trung vào khuôn mặt của hai khán giả . Một là nhân vật nam chỉ được thấy từ mũi trở lên, hai là nhân vật nữ với chiếc mũ có vành khá rộng. Không gian bị cắt ngang bởi một đường biên hơi xiên của cái ban công màu vàng rực ngay trước lô ngồi chìm trong bóng tối, tạo ra một hiệu ứng tương phản khá bí ẩn. Vallotton thêm vào đó một điểm sáng: bàn tay đeo găng của nhân vật nữ đổ bóng xuống nếp gấp của bức tường vàng. Ở đây họa sĩ đã tạo đuợc một sức nặng mơ hồ, siêu hình, từ một chủ đề khá phổ thông.


Inside Out (Những mảnh ghép cảm xúc)

(1/3/2017) Từ hồi có con bé là mình toàn xem phim họat hình là chính 🙂 Hầu như phim nào của Pixar-Disney mình cũng đều thích. Năm nào cũng rình xem Oscar trao giải cho phim họat hình nào. Năm 2017 phim Zootopie được trao giải mình thấy cũng được. Nhưng mình có ấn tượng hơn nhiều với phim Inside Out. Trời, tình cờ xem cái trailer có mấy giây thôi mà mình bỏ cơm luôn, há miệng ngồi xem 😃Sao mà người lớn hay thua trẻ con thế nhể 🙂

Xem 1 review về phim Inside Out (bản tiếng Việt có tên là Những mảnh ghép cảm xúc), trong đó có một câu hỏi: nếu ta chỉ có một cảm xúc thôi thì sẽ như thế nào ?
Ha, nó làm mình nhớ tới đọan hậu phim Toy Story (tập 3) có đọan cô búp bê Barbie cứ phải nhe răng ra cười mỏi hết cả hàm mà máy quay nó chưa chịu off khiến cuối cùng cô phải phẩy tay ra hiệu: thôi đi, đủ rồi ! 
 Đời sống có vui có buồn, có thất bại có thành công, có ngày có đêm, có nắng có mưa… Có những lúc, có những bối cảnh chả có gì đáng cười mà cứ nhe răng ra thì chứng tỏ được gì ngoài việc khẳng định lỗi hệ thống ?  Thà rằng cất công tìm hiểu những cảm xúc đó và học cách cân bằng nó, hơn là việc cứ nhăm nhăm giết chết một cảm xúc nào đó chỉ vì nó « có vẻ không tích cực lắm » . Thứ nhất là nó cũng chưa chắc hòan tòan tiêu cực đâu, nó có vai trò của nó đấy; thứ hai là cũng có giết được đâu, càng dìm nó càng bung ra chứ đùa à ? 
Hãy thử hình dung 5 cảm xúc trong phim Inside Out , nếu 4 cái kia chết hết đi, còn lại mỗi cô Joy (vui vẻ) tung tăng suốt ngày thử hỏi liệu cô nhảy nhót được bao lâu ? Hớn quá đà và liên miên thực ra cũng chả tốt (ít nhất là về mặt năng lượng) thậm chí còn có thể biến thiên sang tiêu cực chứ chả chơi ! Nên cái gì cũng vừa phải thôi. Quan trọng là biết cách quản lý chúng. Mà muốn quản lý đựoc thì trước hết phải hiểu đã nhé. Ngoài Joy (vui vẻ), các cảm xúc khác cũng không hòan tòan tiêu cực. Tạo hình nhân vật Worry (lo lắng, sợ hãi) gầy gò và có màu tím rất chuẩn, nhưng nhờ có nó mà trong nhiều tình huống ta có thể tránh được những tai nạn, hiểm nguy… Cũng vậy, nhân vật Angry (giận dữ) cũng không hòan tòan tiêu cực. Đôi khi nó là tiếng chuông báo động một vấn đề nào đó. Còn Sad (nỗi buồn) thì hãy nghe chính nhà làm phim Ronnie Del Carmen (đồng đạo diễn) nói: « trong quá trình làm phim , tôi có ấn tượng nhất với nhân vật Sad bởi nó chứa một điều gì đó sâu sắc bên trong ». Tạo hình nhân vật Joy được thiết kế có màu vàng, tượng trưng cho sự vui vẻ. Còn Sad được phủ màu xanh blue, tượng trưng cho nỗi buồn. Cuối phim nhé, Joy phải kéo Sad đi theo. Đó là một cặp không thể tách rời. Joy không đi nổi một mình trên hành trình của mình. Nó cần có Sad. Mà hãy nhìn chính Joy ý nhé, tóc và cả mắt của Joy cũng có màu xanh blue y chang như của Sad. Niềm vui nào mà không đi qua hay mang theo nỗi buồn nào đó ? Vâng, Joy và Sad là hai nhân vật chính của phim. Với phim Inside Out, các nhà làm phim đã tiến một bước gần hơn với các quan niệm phương Đông khi mon men đề cập tới các dạng năng lượng vô hình. Phim làm cho trẻ con, cả trẻ bé và trẻ nhớn đấy nhé 😉