« Tôi thường nghĩ ban đêm sống động và giàu màu sắc hơn ban ngày » – Vincent Van Gogh.
Minh họa: tranh do máy tính vẽ bằng công nghệ AI, lấy cảm hứng từ Vangogh.
Thôi, xong 🙏🙏🙏😅😅😅
Catégorie : Hội hoạ
Jerome Bosch: bậc thầy kỳ bí.
Ngay thế kỷ 15, họa sĩ thiên tài Jerome Bosch (Hà Lan) đã nhìn ra những vấn đề to lớn của nhân loại. Các bức tranh nổi tiếng của ông như Vườn lạc thú trần gian (Jardin de delices), Con thuyền của những người điên (La nef des fous), Cái chết của kẻ keo kiệt (La morte de l’avare)… đã cho thấy hình hài của một trong những vấn đề khủng khiếp nhất của nhân loại: vấn đề tâm lý – thần kinh.
Ngày nay, nếu quan sát kỹ trong xã hội bạn sẽ nhận ra rất nhiều người bị các bệnh về tâm lý (psychopath) mà họ không tự nhận thức được. Căn bệnh vô hình này đang dày vò ngấm ngầm phá hủy cuộc sống của bao người và ảnh hưởng cả cuộc sống của những người xung quanh…tạo nên những xung động vô thức ra môi trường.
Thế giới chúng ta sống chắc chắn không chỉ có màu hồng. Nơi đây khá nhiều rủi ro rình rập. Con người bị tấn công trên nhiều mặt của cuộc sống: môi trường, tuổi tác, thực phẩm, tiếng ồn, bệnh tật, thời tiết, tai nạn, các sự kiện xảy ra trong đời sống, các áp lực, sự căng thẳng, rồi thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh, suy thoái kinh tế … Ai không vững vàng sẽ rất dễ rơi vào trầm cảm, rối loạn tâm lý… Cuộc sống xô đẩy con người và con người xô đẩy nhau 😥
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng viết trong một truyện ngắn: vượt qua một bể lọc lừa, vượt qua một bể ái tình…đời nát toét ra .. Kẻ nào có phao là đồng tiền hay lòng nhân đức còn đỡ, không có phao xót lắm…😰
Nhiều người đã không chịu đựng nổi các trò đời, những vô duyên trơ tráo, những nghịch cảnh, và các áp lực trong cuộc sống… đã vĩnh viễn nằm xuống dưới những cú đánh của nó.

Trong bức tranh Con thuyền của những người điên, Jerome Bosch đặt loài người vào một chiếc thuyền nhỏ trên biển thời gian. Những người trên thuyền đều điên (tức có vấn đề thần kinh). Họ ăn uống, yêu đương, lừa lọc, tham dự những trò chơi ngu ngốc, theo đuổi những thứ hão huyền, hoang tưởng, thậm chí tội lỗi mà không biết…trong khi con thuyền trôi giạt vô phương và còn có nguy cơ bị chìm mà những người trên thuyền không nhận ra. Có lẽ họ sẽ chỉ nhận ra khi thuyền đã chìm. Chỉ khi đau đớn con người mới học được bài học gì đó ? Trong bức tranh, tôn giáo được tượng trưng bằng hai tu sĩ nhưng họ cũng thuộc vào nhóm những người sống trong sự mù lòa vô minh, cũng tham dự vào những trò chơi ngu ngốc. Nụ cười của Bosch rất buồn khi sáng tác bức tranh này. Ông không chỉ gây xúc động, ông còn gây công phẫn để mở mắt chúng ta bằng những cảnh báo rất riêng của ông.
Bức tranh được cho là sáng tác vào thế kỷ 15, hiện được bảo quản và trưng bày tại bảo tàng Louvre (Paris).
Một số họa sĩ siêu thực nổi tiếng như Dali, Magritte, Max Earnst sau này cũng có ảnh hưởng từ họa sĩ thiên tài Bosch và coi ông như một người thầy chưa từng gặp.
Sơ Wendy Beckett viết trong cuốn Lịch sử Hội họa: Jerome Bosch là một họa sĩ kỳ lạ. Ông thoát khỏi sự bó buộc của truyền thống Flandre. Phong cách độc đáo của ông có tính tự do khiến người ta sửng sốt. Chủ nghĩa tượng trưng trong tranh ông có sức mạnh đặc biệt tới nay vẫn không ai sánh kịp. (25/12/22)
Make a one-time donation
Make a monthly donation
Make a yearly donation
Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:
Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
DonateDonate monthlyDonate yearlyGoya, một tầm vóc vĩ đại.
Bắt rễ từ thế kỷ 18 – 19, nghệ thuật của Goya dường như đang biến hoá trước mắt chúng ta.
Các tác phẩm thời kỳ đầu của ông mang phong cách của họa sĩ chế độ xưa (thời trước cách mạng Pháp), trong khi sau năm 1792, chứng kiến những nỗi kinh hoàng và thất vọng, người nghệ sĩ với tài năng riêng cho chúng ta thấy nghệ thuật của ông mang những tầm nhìn tuyệt vời.
Goya sinh năm 1746, trước Mozart 10 năm, trước Beethoven 24 năm. Ông 46 tuổi khi Cách mạng Pháp nổ ra, 57 tuổi vào năm 1800. Do vậy ông là người của thế kỷ 18. Nhưng ông đã sống khá lâu – cho đến tận năm 1828. Các tác phẩm của ông chứa đựng những khía cạnh hoàn toàn mới và có tính dự báo tương lai, đến nỗi nó thậm chí thuộc về thế kỷ của Delacroix, Baudelaire và Manet. Cả ba cũng tỏ lòng thành kính với thiên tài của ông. Việc có gốc rễ cả từ thế kỷ 18 và 19 khiến các tác phẩm của Goya rất đa dạng và phong phú.
Cách mạng và sự đổ vỡ.
Người ta thường cho rằng khúc ngoặt quyết định là vào năm 1792. Khi một căn bệnh rất nặng suýt giết chết Goya, buộc ông phải điều trị dài ngày và khiến ông bị điếc vĩnh viễn. Cơn lốc các sự kiện chính trị cũng góp phần vào sự đổ vỡ này. Cách mạng Pháp gây những hậu quả nghiêm trọng ở Tây Ban Nha. Nhóm Ilustrados, đại diện Tây Ban Nha của phong trào Khai sáng, những người chia sẻ lý tưởng của các triết gia Pháp cùng với Goya, bị săn lùng: các bộ trưởng Floridablanca, Cabarrus, Jovellanos, Ceán Bermúdez, Saavedra, tất cả những người bảo vệ họa sĩ, đều bị tù đày hoặc lưu vong.
Căn bệnh của Goya, vẫn còn là một bí ẩn, cũng có thể được hiểu như dấu hiệu của tình trạng bất ổn giữa hai ngả: ông ủng hộ lý tưởng của phong trào Khai sáng và Cách mạng, nhưng đồng thời ông cũng là Họa sĩ của triều đình (Pintor de Camera), thành viên của Hàn lâm viện, có liên hệ bản chất với hệ thống quân chủ mà ông đã nỗ lực leo lên từng bậc với tham vọng đạt đến đỉnh cao. Sự khác biệt này có thể chịu được ở mức độ nào?
Tuy nhiên, sau một thời gian dài dưỡng bệnh tại nhà người bạn là Sebastiàn Martinez ở Cadix, Goya không còn là một họa sĩ như trước nữa. Năm 1794, ông gửi đến Hàn lâm viện một loạt mười một bức tranh, trong đó ông viết, ông đã để cho “tính ngẫu hứng và phóng tác” được hoàn toàn tự do. Đó là những bức tranh với các cảnh cháy nổ, đắm tàu, nhà tù và trại điên, mang đặc điểm thực tế của những thứ được chứng kiến, chứa thông điệp ngầm qua những tưởng tượng hãi hùng.
Họa sĩ triều đình
Sinh ra gần Zaragoza, có cha là một thợ thủ công và mẹ xuất thân từ một gia đình quê nề nếp, Francisco Goya học nghề với một người thầy trong vùng, José Luzán, sau đó thi trượt mấy lần trong các cuộc thi vào Hàn lâm viện San Fernando ở Madrid. Tài năng của Goya không sớm bộc lộ.
Liệu ông có giống với « gã beo béo » mà nhà văn Pierre Michon tưởng tượng (trong Ông chủ và người hầu) ? Gã tỉnh lẻ thô kệch bị lóa mắt bởi bao hình ảnh lộng lẫy trong các cung điện của Madrid cũng như sự hào hoa của xã hội thượng lưu và vẻ kiêu kỳ của các đại tiểu thư không bao giờ với tới ? Lóa mắt và choáng ngợp bởi tham vọng đạt được điều đó, gia nhập với họ và trở thành họa sĩ vĩ đại của thế giới, tiếp cận các đại tiểu thư xinh đẹp …? Mọi người cho rằng với bức chân dung tự họa năm 1771, đầy sinh lực và vững vàng, hé mở phần nào trình tự tiến triển trong sự nghiệp của ông.
Trở về sau một thời gian nghiên cứu ở Ý, ông nhận được những đơn đặt hàng đầu tiên từ các nhà thờ ở Saragosse và giới quý tộc Aragon. Ông cưới Maria Josefa Bayeu, chị gái của anh em nhà Bayeu, những họa sĩ Aragon có tiếng và thân thiết với Anton Raphael Mengs, người khá ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông sau này. Nhờ sự bảo trợ của Francisco Bayeu, ông được vào Xưởng sản xuất thảm Hoàng gia, nơi trong suốt mười lăm năm, ông đã vẽ rất nhiều, mang lại thu nhập đều đặn và xác định vị thế của ông.
Với mục đích trang trí cho cung điện của hoàng tộc, những tấm thảm trình bày các chủ đề vui vẻ, những cảnh phổ biến như Lối đi dạo ở Andalusia, nơi có các sự kiện hoành tráng, các trang phục dân tộc … Nhưng thành công phụ thuộc vào sự công nhận của Viện Hàn lâm. Goya được nhận vào đó vào năm 1780; mười lăm năm sau, ông thay thế Francisco Bayeu đảm nhiệm việc quản lý viện. Đồng thời, ông trở thành họa sĩ vẽ chân dung chính của tầng lớp quý tộc Tây Ban Nha, được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các Công tước xứ Osuna và Medinaceli cũng như chủ ngân hàng Cabarrus.
Tự do chói sáng.
Năm 1799, ông được bổ nhiệm làm Họa sĩ đầu tiên của nhà vua. Gia đình Charles IV, bức chân dung tập thể cỡ lớn được vẽ vào năm 1800, đánh dấu đỉnh cao của sự nghiệp chính thức, được sánh ngang với bức Thị nữ Les Menines của Vélasquez (một trong ba người thầy của ông, cùng với Rembrandt và mẹ thiên nhiên, như ông tuyên bố). Ông đã trưởng thành từ những bài học của người thầy đầu, để đạt được một phong cách quyết đoán, táo bạo, quyến rũ, nhưng vững vàng và dễ chịu hơn so với kỹ thuật điêu luyện quý phái của bậc thầy Sevillian. Ông cũng khẳng định tính độc lập trong nghệ thuật của mình qua sự thông tường đáng kinh ngạc khi nhìn vào các người mẫu: những người mẫu này bị méo đi bởi những tật xấu, đến mức trông như những biếm họa.
Không lâu trước đó, vào năm 1798, ông vừa hoàn thành một công trình hoành tráng, những bức bích họa ở Nhà thờ lớn San Antonio de la Florida, nơi ông được sánh ngang với Tiepolo, nhưng bằng một phong cách hiện thực và dân dã rất riêng. Đó cũng là giai đoạn ông qua lại với nữ công tước xứ Alba, và hình ảnh hai thiếu gia, một người có quần áo và một người khỏa thân, với những cử chỉ rõ ràng khiêu khích trực tiếp người xem, đã ám ảnh Manet.
Trong những năm 1790, Goya đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp và nghệ thuật. Nhưng đó cũng là thập kỷ đau đớn khủng khiếp với ông do bệnh tật gây ra. Kể từ đó, hội họa của ông vừa đạt được sự tự do tuyệt vời vừa bắt đầu hướng tới các chủ đề kịch tính, u ám hay ma mị: những cảnh đấu bò tót, những kẻ giết người, mất trí, kẻ ăn thịt người, ác quỷ và phù thủy …
Nghệ thuật chạm khắc vốn quen thuộc với ông, và ông đã khắc một phần lớn các kiệt tác của Velasquez, rồi sau đó là một loạt các tác phẩm như: Sự bất chợt (Les Caprices), Thảm họa chiến tranh (Les Désastres de la guerre), Đấu bò (La Tauromachie), Sự khác biệt (Les Disparates, còn gọi là Ngạn ngữ) – tạo thành một kỳ tác trong kiệt tác, một tượng đài khổng lồ của bóng tối hấp dẫn và đáng sợ, có lẽ là phần tuyệt đối nhất của thiên tài Goya.
Bức tranh Thảm họa, nửa thực nửa ảo, ngụ ý về những hành động tàn bạo của quân đội Napoléon từ năm 1808 trong cuộc xâm lược và chiếm đóng Tây Ban Nha. Lần đầu tiên trong nghệ thuật phương Tây, sự tàn bạo và kinh hoàng của hành vi con người được phơi ra dưới ánh sáng trực diện, không một chút sắc thái mang tính anh hùng hay lãng mạn. Hai tấm tranh lớn, La Charge des Mameluks, ngày 2 tháng 5 năm 1808 và Les Fusillades, Vụ nổ súng ngày 3 tháng 5 năm 1808, đều tưởng nhớ những sự kiện bi thảm này. Bức thứ hai đã trở thành một trong những biểu tượng to lớn của hội họa phương Tây và là biểu tượng được thế giới ngưỡng mộ về tính tử đạo của các dân tộc bị áp bức.
Hành trình đến tận cùng của bóng đêm.
Sau khi người Pháp rời khỏi, việc Ferdinand VII trở lại ngai vàng Tây Ban Nha đã kéo theo một làn sóng đàn áp chống lại phe Tự do. Goya, lúc này đã già, bị điếc, rời xa triều đình và Hàn lâm viện, thấm đẫm một chủ nghĩa bi quan cay đắng, nhưng lại khiến nghệ thuật của ông mang một tầm vóc vô cùng lớn lao. Năm 1819, ông chuyển đến một ngôi nhà mới ở ngoại ô Madrid, Quinta del Sordo (Ngôi nhà của người điếc), nơi ông trang trí tường bằng những bức họa u ám: những hình ảnh tuyệt vọng về một nhân loại không thể cứu vãn với sự ngu dốt và mê muội, bạo lực mù quáng và cái ác, được vẽ theo kiểu những biến dạng đáng sợ. Ông mang phong cách của chủ nghĩa biểu hiện một thế kỷ trước khi trào lưu chính hình thành.
Sự phục hồi của chế độ chuyên chế vào năm 1823 khiến ông lo sợ cho tự do của mình. Lấy lý do đi chữa bệnh, ông đến lưu vong ở Bordeaux, và sống bốn năm cuối đời ở đó cùng cô Leocadia Zorilla, người đến với ông sau khi vợ mất. Hơn 80 tuổi, Goya không mất đi chất nghệ thuật của mình, ông vẫn tiếp tục trải nghiệm. Những kiệt tác cuối cùng, như bốn tấm thạch bản chủ đề đấu bò, những bức họa nhỏ trên ngà voi hay bức tranh tuyệt vời mà họa sĩ tiền-ấn-tượng gọi là Cô bán sữa ở Bordeaux .. chứng minh tính sáng tạo nguyên vẹn và sức mạnh của một nghệ thuật vĩ đại lan tỏa. Bởi vì nó quan tâm đến thực tại, bao gồm cả những gì đen tối nhất, theo cách trực diện nhất, và bởi vì nó dò tới những góc hiểm hóc nhất trong tâm hồn con người, nơi ẩn náu những phi lý và điên rồ, nghệ thuật của Goya như soi sáng cho cả thế kỷ tương lai và báo trước những dòng chảy lớn của thời kỳ hiện đại.
(lược dịch từ Connaissances des Arts – số tháng 3/2021)
Make a one-time donation
Make a monthly donation
Make a yearly donation
Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:
Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
DonateDonate monthlyDonate yearly« Thiên thần gẫy cánh » của Picasso
Trên một nền xanh da trời mơ mộng, Picasso vẽ một người đàn ông nằm chổng mông, trông như một thiên thần vừa bị ngã sấp mặt xuống đất. Đôi mắt mở thao láo trên cái đầu đang quay nhìn « phần đuôi » của mình một cách ngu ngơ, kiểu « sao thế nhỉ » 😅.
« Thiên thần » có vẻ khá vất vả vì sự nặng nề của anh ta, với chân tay thô kệch và những thứ « của nợ » phơi ra rất siêu hiện thực 😎. Anh ta liệu bay nổi với những thứ vướng víu có sức trì kéo đó không ? Anh ta như đang loay hoay nên trở thành thiên thần hay cứ làm một con thú trần trụi bản năng ? Một bài trên tạp chí mỹ thuật từng mỉa « con thú hoang » khi nói về nhân vật này của Picasso 😎
Bức tranh có tông dịu nhẹ nhưng lại toát lên sự giằng xé giữa hai thế giới: mộng mơ và đời thực. Một bức tranh hóm hỉnh nhưng sâu sắc. Một bức hiếm hoi và không hề nương tay hơn khi ông vẽ phụ nữ 😉
Picasso vẽ bức này vào giai đoạn cuối, khi ông đã quá trải đời, hiểu về con người, nhất là đàn ông. Giới nghiên cứu mỹ thuật đều biết ông mắc hội chứng sợ phụ nữ (vừa thích nhưng vừa sợ 😜), nên tranh vẽ các bà các cô là ông hay băm ra « cho bõ ghét ». Điều này thể hiện khá rõ qua bức Những cô gái vùng Avignon. Còn mấy bức ổng vẽ các cô bồ thì thôi rồi, luôn với cái nhìn sắc nhọn lột tâm can người mẫu.. Bởi vậy bức « Người đàn ông khỏa thân nằm » (L’homme couche’ nu – 1971) này quả là một bức hiếm hoi ông vẽ mẫu nam. Rất Picasso, rất sắc nhọn và hóm hỉnh nhưng cũng rất nhân văn.
Gauguin: Ảo ảnh sau bài thuyết giảng- bí ẩn và đầy hình tượng.
Như một đàn ngỗng trắng, những chiếc mũ vải của các thôn nữ viền bóng đầy đặn trên nền đỏ rực của quang cảnh. Một thân cây cong queo ngăn cách họ với hai đấu sĩ chân trần. Chiếc áo choàng ôm lấy thân hình mảnh khảnh, đôi cánh gắn sau lưng như tiết lộ họ thuộc hai giáo dân thiểu số. Đối diện, bên trái, một chú bò non đang bước uyển chuyển. Bức tranh có tựa đề Ảo ảnh sau bài thuyết giảng hay Cuộc đấu của Jacob với thiên thần. Gauguin vẽ vào tháng 8-9 năm 1888 trong lần lưu trú thứ hai ở Pont-Aven. Trốn đi, hãy trốn ở đó …
Sinh ở Paris, Paul Gauguin (1848-1903) luôn ước thoát khỏi đó. Ngay từ khi ở Lima với người chú quý tộc, ông đã lưu giữ những ký ức kỳ lạ và tuyệt vời. Rồi với tư cách thuỷ thủ hàng hải, ông đi vòng quanh thế giới. Năm 1886, ông lưu trú lần đầu tại Pont-Aven. Bretagne là một vùng có phong cảnh khắc khổ và nguyên sơ, cuộc sống còn khá rẻ, một vùng đất huyền thoại thu hút các nghệ sĩ. « Tôi yêu Bretagne, » ông viết – tôi tìm thấy ở đó sự hoang sơ, tính nguyên thủy ». Sau thời gian lưu trú tại Martinique năm 1887, nơi bảng màu của ông ngập tràn sắc màu rực rỡ, Gauguin trở lại Pont-Aven vào năm sau đó.

Để tách tôn giáo khỏi thực tế, Gauguin đã vẽ một nền đỏ sậm. Một màu đỏ mộng mị, màu đỏ huyền bí xóa bỏ phối cảnh và đưa chúng ta đến với siêu nhiên.
Ảo ảnh sau buổi thuyết giảng thể hiện phong cách mới của ông. Gặp gỡ ở Bretagne, Émile Bernard đã động viên khi ông đang từ giã những mảnh ghép cuối cùng của phái Ấn tượng. Trong bức Những thôn nữ Breton trên đồng cỏ, có vẻ như có trước bức La Vision không lâu, trong sự kết hợp với Louis Anquetin, ông đã mở đường cho cái sau này được gọi là phong cách tổng hợp và thuyết nhân bản. Thuật tráng men, phổ hình, kính màu, khắc gỗ Nhật Bản là nguồn gốc của bước phát triển này. Từ đây, Gauguin xử lý màu sắc trên các mặt phẳng, phác hình bằng những đường liền mạch xóa bỏ phối cảnh. Trong khi chủ nghĩa nguyên sơ của Bernard đứng vững trên mặt đất, rắn rỏi và phàm tục, thì Gauguin theo bản năng hướng về tôn giáo, bí ẩn và đầy hình tượng.
Albert Aurier không nhầm, người đã dành một bài dài năm 1891 về chủ nghĩa biểu tượng trong hội họa cho bức Vision après le sermon. Isabelle Morin Loutrel, người phụ trách tại bảo tàng Orsay, đồng giám tuyển của triển lãm Beyond the Stars, cho biết: « Aurier đã coi tác phẩm này như biểu tượng của chủ nghĩa tượng trưng. » Gauguin vẽ một mặt hiện thực, mặt khác là viễn cảnh cuộc đấu tranh của Jacob với thiên thần, trong một bối cảnh tinh thần. Nhu cầu tâm linh xuyên suốt khung cảnh như trong mơ này. Trong một bức thư gửi Van Gogh, họa sĩ giải thích rằng «cảnh quan và cuộc đấu tranh chỉ tồn tại trong tâm trí khi người ta cầu nguyện sau bài thuyết giảng« , ở đó có sự tương phản và độ vênh giữa tập hợp tự nhiên và cảnh tượng «phi tự nhiên».

Kinh thánh kể rằng Jacob bị trật khớp hông trong cuộc vật lộn với vị khách bí ẩn ban đêm. Gauguin làm phong phú thêm tầm nhìn của mình với việc quan sát trực tiếp các đô vật trẻ Breton.
Aurier cũng mô tả bức tranh: “Xa xa, trên một ngọn đồi với đất nền đỏ son hiện ra hoành tráng, nơi diễn ra cuộc chiến trong Kinh thánh của Jacob với thiên thần. Trong khi hai người khổng lồ huyền thoại, mà khoảng cách biến họ thành tí hon, chiến đấu trong cuộc chiến dữ dội của mình, những người phụ nữ đứng nhìn […]. Họ tỏ thái độ tôn trọng và những khuôn mặt biểu cảm của tạo hóa đang đơn giản lắng nghe câu truyện cổ tích phi thường […]
Vẻ đẹp mộc mạc của những phụ nữ thôn quê Breton, những trang phục tuyệt vời của họ trở thành một trong những họa tiết yêu thích của họa sĩ ở Pont-Aven, khi ông đã mệt mỏi với sự màu mè của đô thị. Gauguin nói rằng ông đã đạt được trong tác phẩm này « tính mộc mạc đồng quê và thành tín tuyệt vời« . Sự thô ráp của khuôn mặt làm tăng hiệu ứng bí ẩn của cảnh, trong con mắt của những người thành tín.
Trích từ kinh Sáng Thế, chủ đề thường được các nghệ sĩ thể hiện từ thời trung cổ. Gauguin có lẽ đề cập đến bức tranh lớn của Delacroix trong nhà thờ Saint-Sulpice. Nhưng nó cũng bao hàm các đấu vật sumo của Hokusai và nhiều điều ở Bretagne. Cuộc đấu truyền thống của người Breton đã truyền cho ông cảm hứng vẽ một bức tranh vài tháng trước đó.
Bức tranh đã châm ngòi cho một cuộc chiến khác, một cuộc bút chiến. « Émile Bernard trách Gauguin đã bắt chước phong cách và bố cục của bức Những người phụ nữ Breton trên đồng cỏ » – Claire Bernardi, người phụ trách tại Musée d’Orsay, giải thích. “Càng rời xa phong cách tổng hợp, ông ấy càng có vẻ gay gắt với Gauguin, thậm chí tuyên bố đã phát minh ra phong cách này, và chỉ trích dẫn bức La Vision apres le sermon. Bài báo của Aurier khiến ông nổi giận. Gauguin đã định dâng bức tranh của mình cho nhà thờ Pont-Aven, nhưng sau đó ông lại mang đến nhà thờ làng Nizon. « Tôi đã vẽ một bức tranh cho nhà thờ, tự nhiên nó bị từ chối, » ông ngắn gọn. Sự táo bạo và tính thần bí với màu sắc của lửa khi đó, « dĩ nhiên », không thể chấp nhận được. Nhất là trong một nhà thờ …
dịch từ Connaissance des Arts
Make a one-time donation
Make a monthly donation
Make a yearly donation
Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:
Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ :
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
DonateDonate monthlyDonate yearlyMunch: Nghệ thuật là niềm khát vọng kết tinh của con Người.
Edvard Munch (1863-1944) là một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất Bắc Âu. Giữa chủ nghĩa biểu tượng đang trào lưu lúc đó và chủ nghĩa biểu hiện sơ khai, tác giả của kiệt tác « Tiếng thét » (Le cri) là một họa sĩ của tâm hồn và cảm xúc. Chủ nghĩa bi quan nơi ông cũng không xa triết học của Arthur Schopenhauer, Friedrich Nietzsche, cũng như thơ của Mallarmé. Trong các tác phẩm của mình, ông tiếp cận chủ đề về cái chết, sự hoảng sợ, nỗi đau.. một cách trữ tình hơn là hiện thực. Trong không khí của cái bị gọi là « sự suy đồi cuối thế kỷ », Munch đã sáng tác một tác phẩm có tính tiểu sử sâu sắc và là một trong những bức độc đáo nhất của phong trào biểu tượng.
Ông nói: « Nghệ thuật là niềm khát vọng kết tinh của con Người. »
Edvard Munch ra đời tại Oslo. Ông được đặt tên Christiania cho tới năm 1925. Bố ông là một bác sĩ quân y và gia đình nói chung khá giả. Tuy nhiên, từ nhỏ Edward đã phải đối mặt với cái chết của mẹ và một người chị, nên tính cách ông khá yếu đuối và hay lo âu bất an. Ông được một bà dì nuôi dạy, người đã khuyến khích ông phát triển tiềm năng hội họa của mình.
Niềm khát khao trở thành họa sĩ lớn dần, ông bắt đầu theo học vẽ tại Học viện Hoàng gia, sau khi từ chối khoá học kỹ sư . Năm 20 tuổi, ông đi du lịch châu Âu, đến Berlin, Paris.. nhờ có học bổng. Chính tại thủ đô nước Pháp, ông đã biết đến các họa sĩ tiền-ấn-tượng, đặc biệt là các tác phẩm của Paul Gauguin và Vincent Vangogh.
Trở về Na Uy, Munch thường lui tới các chốn phóng túng và giao thiệp với những người theo chủ nghĩa vô chính phủ. Cá tính bất an đẩy ông khám phá các chủ đề hỗn tạp và quái dị. Ông đã chịu các cơn ảo giác, sự ghen tuông quá đà, rồi vẽ một bức tranh có tên « Đứa trẻ bệnh tật » (L’enfant malade – 1885). Ngày thứ hai tại Paris, ông nhận tin cha mất, điều khiến tinh thần ông một lần nữa bị đảo lộn.
Munch là một họa sĩ của cảm xúc nhưng cũng rất ma mị. Các chủ đề của ông thường dò vào ngóc ngách tăm tối nhất trong tâm lý con người, nơi những hoảng sợ, những ám ảnh, những đau đớn .. ẩn trốn. Những chủ đề của ông thuờng đến từ những suy tư tự vấn về sự tồn tại của chính bản thân. Mỗi tác phẩm đều thấm đẫm một tâm lý căng thẳng trong im lặng. Các triển lãm của ông khiến công chúng bối rối.
Càng như vậy thì ông càng nổi tiếng, nhất là ở Đức. Ở Berlin và Paris, Munch cũng phát triển tài hoa trong mảng chạm khắc và in khắc gỗ. Nhưng cái chết tiếp tục không buông tha ông. Năm 1895, ông lại mất một người anh trai và một người em gái thì phải nhập viện tâm thần. Ông cũng không hạnh phúc trong các mối tình của mình. Ông từng có một mối tình khá say mê với một phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc – Tulla Larsen. Sau khi chia tay, ông rơi vào trầm cảm.
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới, Munch sống không xa Oslo. Ông mua một căn nhà ở Skoyen, từ đó trở thành nơi ở và xưởng vẽ của ông. Trong không gian của riêng mình, Munch để tâm vẽ rất nhiều tranh phong cảnh.. Sức khoẻ yếu dần, và thị lực của ông bị rối loạn, rồi Đức quốc xã xâm chiến Na Uy và nhiều nguồn tin cho rằng ông bị chúng sát hại. Ông mất năm 1944, sau khi hoàn thành tác phẩm về thành phố Oslo.
Tác phẩm bất hủ : Tiếng thét (1893-1917).
Munch đã thực hiện khoảng 5 phiên bản về chủ đề sự hoảng loạn đó. Lấy cảm hứng từ một lần đang đi dạo, họa sĩ trình làng một nhân vật trông như xác ướp với hai tay bịt tai. Ông ta đang tìm cách thoát khỏi một tiếng kêu không thể chịu đựng nổi nữa ? Ông ta vừa là nhân vật chính vừa là nạn nhân vô danh của một cảnh khủng khiếp. Bầu trời thì đỏ quạch và dông bão, có lẽ cảm hứng từ một hiện tượng khoa học thực tế: tro bụi bay tung lên không trung từ một vụ phun trào núi lửa ở Indonesia, dội tới tận những vùng bắc Âu. Đó là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật, được khắp nơi diễn dịch và bắt chước.

Munch từng tâm sự về cảm xúc sáng tác bức họa nổi tiếng này: « Lúc đó tôi đi dạo với hai người bạn, mặt trời đang lặn, bỗng nhiên bầu trời chuyển sang đỏ quạch như máu, tôi dừng lại, cảm thấy kiệt sức, tôi vịn vào thành cầu .. nó như có máu và những lưỡi lửa phủ lên mặt vịnh đen xẫm của thành phố.. Các bạn tôi vẫn đi, còn tôi dừng lại, run lên vì sợ hãi… Tôi nghe như có một tiếng kêu thất kinh xuyên thấu vũ trụ.. »
Ma cà rồng (Vampire – 1893)
Bức tranh về người đàn bà màu đỏ không loại trừ các yếu tố gợi tình, nhưng người đàn bà hiện ra ở đó trong tư thế của một kẻ cầm chịch nguy hiểm và tàn nhẫn. Làn tóc xõa ra phủ lên người tình và cô ta bắt đầu nhấm nháp một nụ hôn chết chóc. Trong khi thể hiện người đàn bà đáng gờm với mái tóc xõa, Munch cho thấy đó chỉ là một cảnh riêng tư. Cặp đôi đồng nhất trong một dạng trói buộc nhau, một kiểu trốn tránh báo trước số phận thảm khốc.
Chân dung tự hoạ, giữa đồng hồ và giường (1940 – 1943)
Edvard Munch đã thực hiện khá nhiều bức chân dung tự họa trong suốt chặng đường sự nghiệp của mình. Trong một bức vẽ muộn sau này, hoạ sĩ tự thể hiện mình như một tù nhân của thời gian, bị mắc kẹt giữa các giờ đồng hồ trôi đi một cách vô vọng và chiếc giường (nơi sinh và nơi chết). Già nua và cô đơn, bị đông cứng trong một sự bất động chết chóc. Mặc dù xuởng vẽ khá sáng đèn và đầy tranh (biểu tượng của đời nghệ sĩ), bóng cây thập tự in xậm xuống nền dưới chân họa sĩ, như một tuyên bố về cái chết của riêng ông.
dịch từ tạp chí BeauxArts, số 450.
Make a one-time donation
Make a monthly donation
Make a yearly donation
Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:
Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
DonateDonate monthlyDonate yearlyHoạ sĩ Đại Giang: « tôi muốn nói về cái mênh mông, cái vô tận của vũ trụ »
Trong nghệ thuật, không nên nhìn một cách phiến diện. Trường hợp của họa sĩ Đại Giang, câu quote này mang một ý nghĩa mới. Nói một cách văn vẻ, Nguyễn đã xoay đầu nghệ thuật.
Nếu bạn có xu hướng nghiêng đầu khi ngắm một bức tranh, hãy chuẩn bị để nghiêng nhiều hơn khi bạn xem một trong các tác phẩm của ông, dù sau đó có thể bạn sẽ bớt nghiêng đi. Nghệ thuật của Nguyễn không phải là thứ đóng khung – điều mà bất cứ hoạ sĩ nào cũng sợ như sợ dịch bệnh. Ông vẽ theo phong cách đảo – hay còn gọi là trường phái đảo ngược. Hoạ sĩ gốc Việt không chỉ đơn thuần đi theo mục tiêu này, ông đã sáng tạo và phát triển một trường phái nghệ thuật riêng.
« Bản chất con người có tốt có xấu, có đúng có sai. Nghệ thuật đảo ngược giúp chúng sống hài hoà với nhau, ngày và đêm » – Nguyễn phát biểu về phong trào nghệ thuật đã thu hút sự theo dõi đông đảo khắp nơi trên thế giới. Hàng trăm ngàn người từ hơn 25 quốc gia thường xuyên thăm trang web của ông, hàng chục nghệ sĩ đã trực tiếp đến thăm ông tại studio riêng ở Seattle để thực hành nghệ thuật upsidedown, một nghệ thuật mà ông khám phá từ năm 1996, hai năm sau khi tới định cư ở Mỹ.
« Sống giữa một cộng đồng cả người Mỹ và Việt trong khi thấy thế giới thường xuyên thay đổi ra sao, concept nghệ thuật của tôi đã trở thành cái nhìn hàng ngày » – nghệ sĩ 67 tuổi nói. « Cho tới nay, nhiều hoạ sĩ vẫn vẽ kiểu một chiều. Nghệ thuật upsidedown khao khát diễn đạt những khía cạnh khác nhau của cảm xúc con người: cả niềm vui và nỗi buồn, sự sống và cái chết. » Nguyễn nói rằng các bức tranh của ông chứa đựng cả những điều có lý và vô lý. « Không phải là tôi bênh những thứ vô lý, mà tôi muốn nói về cái mênh mông, cái vô tận của vũ trụ. » Ông khẳng định : « Nói một cách khác, upsidedown chính là từ cuộc sống ». Ông viết trong bản tuyên ngôn của trường phái Upsidedown: « Trong cuộc sống, có mầm của cái chết… Hai vế đó là sự thật hiển nhiên của đời sống. Đúng và sai, sống và chết, hạnh phúc và đau khổ… Không có gì là vĩnh cửu, không gì là không thể biến đổi, không có gì là ổn định. »
Hai mặt của sự thật
Chẳng có gì là vấn đề đối với những người chơi ô ăn quan, một trò chơi rất phổ biến của trẻ con Việt nam, mà Nguyễn miêu tả trong một tông màu ấm áp, nơi người chơi có thể thắng hoặc thua bất cứ lúc nào. Bạn cũng sẽ có cảm xúc tương tự khi ngắm bức « Năm Mới » (New Year) với những cơ thể đang nhảy múa sôi nổi trong khi gương mặt họ lại kể một câu chuyện khác, cứ như họ đang nói « càng nhiều hạnh phúc, càng nhiều khổ đau » vậy (so much happiness, so much sorrow). Xuyên qua những hình tượng như vậy, nghệ sĩ phản ánh sự thay đổi nhanh chóng đang diễn ra trên thế giới và các tác động của nó tới đời sống con người. Trên tranh của ông, vô thức gặp gỡ ý thức, và cả hai đều tỉnh táo. Các nhân vật và vị trí của họ thay đổi tuỳ góc nhìn, tuỳ vào việc cuộc sống đưa đẩy họ nơi đâu. Sự thay đổi được nhấn ở các vị trí mắt, mũi, miệng, tay và chân.. Bên trong trở thành bên ngoài, trên trở thành dưới, to lớn trở thành nhỏ bé và ngược lại. Nguyễn nói với tôi rằng dù chân dung đã « được thay đổi, vặn vẹo, nhìn không thuận mắt », nhưng cái cơ bản và cá tính của nhân vật đó vẫn đúng là họ. « Một nghệ sĩ upsidedown sáng tạo không biên giới giữa đúng và sai, xấu và đẹp, cơ thể và phi cơ thể » – ông nhấn thêm – « đó là một cuộc hôn nhân mãnh liệt giữa cái có lý và cái vô lý, nơi mà những thứ vô hình sống chung với cái hữu hình ».
Một trong những ví dụ khác rõ hơn để minh họa tính phi logic là bức sơn dầu Sleeping (Đang ngủ – 2008), nơi chúng ta thấy những hình khối tuyệt vời trông hơi quái dị, không rõ là đàn ông hay đàn bà. Ở đây chúng ta nhớ tới trường phái lập thể của Picasso, trừu tượng của Morgan Russel, tính biểu tượng của Gustave Moreau, với những nét hào phóng của chủ nghĩa ấn tượng, siêu thực và vị lai.
Giống các tác phẩm của mình, Nguyễn như một con lắc, dao động giữa những mảng màu tươi sáng với những mảng trầm tối, trong khi vẫn chừa không gian cho các sự liên tưởng . Tác phẩm của Nguyễn đặc biệt chứa khá nhiều biểu tượng về sự thay đổi của quê hương ông và vai trò của người phụ nữ – những chủ đề yêu thích của ông trong hội họa. Đa số ông vẽ khoả thân, diễn tả những đường nét và gấp khúc với nhiều biểu tượng như một phần trong các nhận xét về cuộc đời của ông, phản ánh các chủ đề gợi cảm hứng cho ông trong hội hoạ, sự trần tục, xã hội và con người.
Mỗi tác phẩm thường ông vẽ trong 2,3 ngày hoặc một tuần, nếu phải chờ sơn khô. Dù là sơn dầu hay arcrylic, Nguyễn không bị bó buộc vào hai chất liệu này. « Nếu bạn là một họa sĩ upsidedown, bạn có thể sử dụng mọi chất liệu. » Ông cũng không trói mình vào một serie tranh mà thích vẽ riêng từng bức. Như các tranh chân dung, phong cách của Nguyễn cũng thay đổi. Dù ông thường vẽ trên những tranh khổ nhỡ, lúc này ông đang vùi mình trong một bức tranh tường có tên « Sinh, lão, bệnh, tử ». Mọi thứ không phải lúc nào cũng đảo ngược, phải trái đối với người hoạ sĩ gốc Hà Nội này. Nguyễn bắt đầu vẽ lúc 7 tuổi. Lên 10 ông đã biết sau này mình sẽ làm gì . Năm 1968 tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, ông sang Nga học và tiếp tục đạt bằng cử nhân nghệ thuật của Đại học Mỹ thuật Moscow năm 1974. Sau này tới định cư ở Mỹ ông tiếp tục theo học tại đại học ở Washington. Và không lâu sau đó, nghệ thuật của Nguyễn đã khiến công chúng và các nhà phê bình sửng sốt. Năm 1994, ông đoạt giải vàng tại cuộc thi nghệ thuật quốc tế tại bang Washington.
Giải thưởng khích lệ thêm sự đam mê nghệ thuật nơi ông. Ngay sau khi viết bản tuyên ngôn cho trường phái upsidedown của mình và đưa triết lý vào thực hành, ông đã lọt vào danh sách Who’s who in the World của tổ chức IBC (International Biographical Center), một tổ chức ghi nhận tiểu sử của các nhân vật có ảnh hưởng trên thế giới. Ông cũng đuợc chọn vào sách « 500 founders of 21st century » (500 nhà sáng lập thế giới thế kỷ 21) do J. Gifford và IBC tuyển chọn. Họa sĩ Đại Giang tiếp tục triển lãm tại Mỹ và một số nước châu Âu. Năm 2006, tác phẩm Mẹ và Con (Mother and Son) nhận giải đặc biệt tại cuộc thi nghệ thuật quốc tế ở Tây Ban Nha. Một năm sau, Ca trù – tác phẩm ông khắc họa những ca cầm Việt nam, đoạt giải Diploma of Excellence trong một cuộc thi quốc tế tại London. Nghệ thuật upsidedown của Nguyễn có mặt tại các bảo tàng nghệ thuật Voronezh (Nga), Seattle (Mỹ) cũng như trong các bộ sưu tập cá nhân ở Mỹ, Nhật, Canada, Hồng Kong, Bỉ, Việt Nam, Pháp..
Với phong trào nghệ thuật và triết lý mới của mình, Nguyễn đóng một vai trò quan trọng không thể phủ nhận trong giới nghệ thuật đương đại ngày nay. Và ông đã hoàn toàn xoay đầu nghệ thuật, thách thức con mắt và sự phán xét của chúng ta.
(Maha Majzoub – tạp chí RAGMAG, tháng 8/2011)