Rembrandt, thiên tài mãi đi tìm sự thật

Đối diện bức họa này, cái nhìn của nhân vật nữ khiến trái tim bạn bứt rứt.
Cái nhìn dịu dàng và trầm tĩnh, vừa tổn thương vừa muốn bảo vệ.
Đường cắt của chiếc áo để cho người xem đoán phần tuyết trắng nơi cổ. Một chiếc áo lông đắt tiền phủ qua vai, trong khi bàn tay phải vịn vào tay ghế. Thực sự rất quí phái. Chân dung Hendrickje Stoffels, nàng hầu của họa sĩ, ngừoi phụ nữ cuối cùng bên ông .
« Ông đã muốn giới thiệu nàng như một phụ nữ rất quan trọng trong cuộc đời mình » – Peter Schatborn, người phụ trách triển lãm Rembrandt intime, nhấn mạnh . « Cô ấy đối xử cực kỳ tốt với ông. Và cùng với Titus, con trai của Rembrandt, cô đã bảo vệ ông khỏi các chủ nợ, khi ông định bán tất cả để tránh phá sản. Tiếc là cô ấy mất 6 năm trước khi họa sĩ ra đi và Titus thì mất 13 tháng trước cha mình ».

Bi kịch và vinh quang trộn lẫn trong cuộc đời của danh họa Hà Lan Rembrandt. Là con trai của một chủ nhà máy xay bột giàu có ở Leyde, ông sinh năm 1606. 14 tuổi ông theo học họa sĩ Jacob Isaacsz van Swanenburgh, rồi sau đó theo học tại xưởng của họa sĩ Peter Lastman, chuyên vẽ các cảnh trong kinh thánh và thần thọai. « Rembrandt học được ở đó khá nhiều về kỹ thuật, màu sắc, bố cục, tuy nhiên cũng không lâu. Vì cậu học trò đã sớm tìm con đường riêng cho mình hướng tới cách diễn đạt, sức mạnh, và những bố cục tập hợp . »
Giai đọan đầu tiên này đã mở màn cho triển lãm Bối cảnh lịch sử (La scène d’histoire) năm 1626, với các bức họa khổ lớn, màu sắc sống động, và những khuôn mặt phản chiếu tâm hồn các nhân vật.
Đối với Pierre Curie, người phụ trách bảo tàng Jacquemart-André, thì « Rembrandt thường thích vẽ khổ nhỏ. Ở ông, sự thân thuộc cũng nằm trong những chủ đề được đề cập trong quá trình sáng tạo. Ông đã tìm tòi nhiều tới mức người ta có thể khám phá sự phát triển của ông ở mọi giai đọan cuộc đời .

Bữa ăn của những nguời hành hương ở Emmaus (một kiệt tác về sáng-tối)

Sau Louvre, Jacquemart-André là bảo tàng thứ hai của Pháp trưng bày tác phẩm của danh họa này.
« Bức Chân dung bác sĩ Arnold Tholinxz được Edouard André mua năm 1865. Bức Bữa ăn của những người hành hương ở Emmaus và bức Chân dung công chúa Amalia ở Solms, được mua năm 1891 và 1892 với sự tham gia của Nélie Jacquemart ». Ba bức trong bộ sưu tập cố định của bảo tàng về danh họa này đại diện cho 3 giai đọan chính trong cuộc đời Rembrandt: giai đọan sáng-tối, giai đọan hiện thực, và giai đoạn cảm xúc sâu sắc của bản thể mà bức Chân dung Hendrickje Stoffels là một minh chứng hòan hảo. Cũng như bức Titus đang đọc (Titus lisant). Áng sáng rơi từ trên cao, xuống khuôn mặt, mái tóc, đôi bàn tay, và cuốn sách. « Đó là một bức chân dung khá trìu mến, của một người cha vẽ con mình. Và cậu con trai trong mắt ông cũng hơi giống mẹ » – Peter Schatborn mỉm cười. Vợ Rembrandt, tên là Saskia mất ở tuổi 30, được giới thiệu trong triển lãm này qua bức Saskia và Flore, vẽ năm 1634, một kiệt tác mượn của bảo tàng Ermitage. Đó là giai đọan mà nghệ thuật của bậc thầy rực rỡ với phong cách hiện thực (réalisme), một sự chính xác ngọan mục. Trong bộ áo chòang bằng gấm vóc phương Đông đắt tiền, Saskia đầu đội vòng hoa, hiện thân cho tuổi trẻ và khả năng sinh sản, mượn ý từ thần thọai Hy lạp về nữ thần Flore.
Saskia và Flore
« Rembrandt sử dụng các tác phẩm của những họa sĩ khác để nuôi nấng những chủ đề về phương Đông của ông, như khiến ông nghĩ đến trang phục của Saskia. Ở nhà ông có những sưu tập các tượng bán thân, tranh tượng, bản khắc.. của Titien, Durer… , những vỏ sò, thanh gươm và nhiều vật khác mà ông sử dụng để vẽ vào tranh của mình. Ông luôn luôn tìm tòi hiện thực trong từng chi tiết, để thể hiện sâu mỗi khuôn mặt, mỗi cảm xúc con người. Rất nhiều bức chân dung tự họa ông thực hiện ở giai đọan này. Ông dùng nó để nghiên cứu từng cung bậc cảm xúc của chính mình, trong gương ».
Cũng như Titien, Caravage, Rubens… Rembrandt là một bậc thầy về sáng-tối trong lịch sử hội họa thế giới.

cô dâu Do Thái , một trong những bức nổi tiếng nhất của Rembrandt

Triển lãm có tên Rembrandt intime tại bảo tàng Jacquemart-André (Paris) từ 16/9 cho tới ngày 23/1/2017 trưng bày 3 giai đọan sáng tác của Rembrandt với bộ sưu tập các bức chân dung tự họa của ông và người thân, các tác phẩm thời trẻ và thời đã vững vàng, các bức họa, phác thảo, tranh khắc trong nhiều trạng thái khác nhau.. cho thấy một thiên tài mãi đi tìm sự thật.

(lược dịch từ tạp chí Point de Vue. 25/9/2016)

JAN FABRE , chiến binh của cái Đẹp

Gallery Deweer (Bỉ) đang triển lãm một số tác phẩm của Jan Fabre với tên gọi « Jan Fabre – Vanitas vanitatum, omnia vanitas » (1/6 đến 3/7). Các tác phẩm này sau đó sẽ được triển lãm tại Bảo tàng Hermitage ở St.Petersburg từ 21/10/2016 đến 9/4/2017, với tên gọi « Jan Fabre – Hiệp sĩ tuyệt vọng / Chiến binh của Cái Đẹp » ( Jan Fabre –Knight of Despair / Warrior of Beauty ).. Các tác phẩm của Jan Fabre sẽ được đặt trong gian Nghệ thuật Flemish thế kỷ 17, tại khu trưng bày các tác phẩm của Jacob Jordaens, một họa sĩ gốc Antwerp (1593 – 1678) .

Phù hoa và sự chung thủy là hai chủ đề chính trong serie mới rất ấn tượng này. Cả hai chủ đề đều quen thuộc trong nghệ thuật Flemish từ thế kỷ 16,17 cũng như các tác phẩm của bậc thầy nghệ thuật baroque Jacob Jordaens . Các khái niệm trừu tượng đều đã được giới thiệu trong lịch sử hình tượng qua những biểu tượng đa dạng . Một hộp sọ, một bộ xương, ngọn nến tắt, hoa héo, đồng hồ, chiếc ly úp ngược… tất cả đều tượng trưng cho sự hư vô ngắn ngủi . Con chó tượng trưng cho sự trung thành, tận tâm, thậm chí sự giúp đỡ . Trong sự kết hợp với một lọat các hình ảnh miêu tả sự phi giới hạn, chúng ta sớm hiểu rằng biểu tượng con chó cũng có ý nghĩa cho những thứ con người cho là thấp hơn phẩm giá của mình. Một lần nữa, Fabre cho thấy cái nhìn sâu sắc của ông về sự ngắn ngủi của cuộc sống trần gian . Con người phải tự cam kết với những lý tưởng vượt thời gian, như là Cái Đẹp. Những cái khác đều không thích hợp.

Jan Fabre là một trong những nghệ sĩ hàng đầu của Bỉ hiện nay. Nhiều tác phẩm của ông được trưng bày trong khuôn viên Quốc hội Bỉ, và cũng thuộc bộ sưu tập nghệ thuật của Hòang gia Bỉ. Dưới đây là cuộc trò chuyện với nghệ sĩ trong khuôn khổ cuộc triển lãm đang diễn ra.

– Điều gì gây cảm hứng cho ông và cho ông năng lượng ?

Jan Fabre (J.F): Sự rối rắm của cái đẹp và tình yêu cho tôi năng lượng. Cơ bản là vậy.

– Những cảm hứng của ông cho các tác phẩm mosaic mới là gì ?

J.F : Triển lãm lấy cảm hứng từ các bức tranh của Jacob Jordaens. Tất cả những bức tranh này sẽ được trưng bày trong triển lãm « Hiệp sĩ tuyệt vọng / chiến binh của cái Đẹp » từ 21/10/16 đến 9/4/17 tại bảo tàng Hermitage ở St. Peterburg (Nga). Tôi đã phải chuẩn bị cho triển lãm này cả 3 năm. Các tác phẩm của tôi tương tác với các bức tranh của Jordaens. Ông ấy thường vẽ chó . Chó là một biểu tượng của lòng trung thành. Triển lãm ở gallery Deweer cũng về lòng trung thành và sự hư ảo .

đầu lâu của Jan Fabre cũng lấp lánh, nhưng vẫn chưa ăn chơi bằng đầu lâu nạm kim cương của Damien Hirst

– Ông làm thế nào để sưu tập các con bọ cánh cứng ?

J.F : Đa số những con bọ cánh cứng này là từ các nhà hàng. Tôi có những liên lạc quốc tế về ngành côn trùng học ở châu Á như là Indonesia, Malaysia… Ở đó họ ăn côn trùng. Các trường đại học thu thập những bộ cánh mà người ta vứt đi .

– Có mất nhiều thời gian không ?

J.F: Có, thường là mất một năm hoặc năm rưỡi để thu thập những bộ cánh đó cho các tác phẩm của tôi .

– Ông cũng là nhà sưu tập côn trùng ?

J.F : Tôi cũng là một nhà côn trùng học nghiệp dư. Bên cạnh một bộ sưu tập côn trùng, tôi cũng được thừa hưởng những cuốn sách và bản thảo của Jean-Henri Fabre, một trong những nhà côn trùng học lớn nhất trong thời của ông.

– Ông có theo những nguyên tắc cơ bản nào đó khi sưu tập côn trùng ?

JF: Vâng, tôi chỉ làm việc với những côn trùng đã chết vì các nguyên nhân tự nhiên.

một sắp đặt của Jan Fabre tại bảo tàng Louvre (2008)

– Ông triển lãm khắp thế giới . Mọi người phản ứng thế nào ở các nước khác nhau về các tác phẩm của ông ? Theo cùng một cách hay các cách khác nhau ?

J.F : Luôn luôn có một liên kết bí mật giữa người xem và một tác phẩm nào đó. Là nghệ sĩ, bạn không thể can thiệp vào việc này. Khoảng 2 tuần trước, tôi có khai mạc một triển lãm có tên « Những người canh gác tinh thần » (Spiritual Guards’ ) ở Firenze (Ý). Đây là một triển lãm khá lớn và trong 14 ngày đó có khỏang 25000 người đến xem. Số người xem cũng tùy thuộc từng nước và những bình luận cũng tùy thuộc vào văn hóa.

tác phẩm của Jan Fabre ở Ý (2016)

– Ông có thích khi người ta hỏi về ý nghĩa các tác phẩm của ông ?

J.F: Tôi hy vọng những người xem tự họ nhìn và phản ứng. Nhìn và suy nghĩ. Khoảng một năm trước tôi cũng có một triển lãm. Trong số các khách đến xem có cả trẻ con, khỏang 10, 12 tuổi , và chúng bình luận về các tác phẩm của tôi. Bọn trẻ con luôn trung thực và chân thành. Đôi khi nghe chúng nói chúng nghĩ gì còn thú vị hơn là đọc các phê bình mà người ta viết về các tác phẩm của tôi.

– Nghệ thuật đối với ông là gì ?

J.F: Nghệ thuật là về cái Đẹp nhưng không chỉ là thẩm mỹ . Các tác phẩm của tôi liên quan đến sự gắn kết giữa các giá trị đạo đức và nguyên tắc thẩm mỹ .

(nguồn Artfox , tháng 6/2016)

Đàn bà với Valloton: tạo vật đáng thèm và đáng sợ

Dù cả đời Valloton không ngừng miêu tả những đường cong cơ thể phụ nữ, nhưng đối với ông chúng mãi vẫn là bí ẩn. Trên toile, ông tóm bắt, ông dò xét, lột quần áo và soi mói chúng ở mọi góc cạnh. Cái cơ thể khác lạ hấp dẫn kia khiến ông vừa say mê vừa sợ hãi. Qua các bức tranh thị nữ ông vẽ vừa phá cách vừa khiêu khích, đàn bà sở hữu đủ thứ: lúc thì lạnh lùng, lúc thì gợi dục, lúc lại nguy hiểm, quyến rũ và mong manh… nhưng luôn luôn hấp dẫn. Valloton không bỏ qua chủ đề khỏa thân tắm táp, một chủ đề khá “top” trong lịch sử nghệ thuật. Theo chân các họa sĩ ấn tượng và nhóm Nabis, ông quan sát phụ nữ trong những cử động riêng tư đời thường, nhưng thêm vào đó một chút lạ lùng, một chút hài hước. Như cô gái tóc đỏ đang vấn tóc lên trong nhà tắm được miêu tả không “happy”, dù trông rất hồng hào và đầy đặn.

“Femme au bain se coiffant” (Người đàn bà vấn tóc khi tắm, 1897)

Hay bức Le Bain Turc (Nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ) vẽ năm 1907, dù trong một khung cảnh khá quen thuộc, nhưng thể hiện rất duyên dáng. Bức này có cảm hứng từ kiệt tác của Ingres mà ông đã chiêm ngưỡng năm 1905, xúc động đến chảy nước mắt, nhân dịp tưởng nhớ danh họa tại Grand Palais. Ông thú nhận với sự thán phục: “Chỉ riêng cách mà Ingres bo các đường nét đã khiến tôi cảm nhận ngay sự ấm nóng của cơ thể nữ và sức nặng của bầu vú”. Cũng vậy, bức Le bain Turc là sự triển khai các đường cong khiêu khích từ da thịt cho tới nhục cảm đã bị đóng băng.

Cũng như các họa sĩ Phục Hưng, Valloton cũng khai thác tính gợi dục ở chủ đề ngủ khỏa thân. Tuy nhiên, năm 1897, bức Femme nue assie dans un fauteuil rouge (Người đàn bà ngủ ngồi trên ghế bành đỏ) bị loại ra khỏi định nghĩa về sự gợi cảm: da thịt bị nặng nề, cơ thể thì gập khúc, ngực bị bẹp, còn cánh tay thì đơ thuỗn ra. Bức tranh này như một dạng thử nghiệm cấp tiến, tổng hợp các kinh nghiệm của Nabis với màu sắc phẳng, các đường bao đen, thiếu độ sâu, và sự đối lập giữa các đường cong và đường thẳng.

17 năm sau, bức Nu à l’écharpe verte (Khỏa thân với khăn choàng xanh) cũng lấy tương phản mạnh giữa đỏ và xanh lá, nhưng xử lý khỏa thân hoàn toàn khác. Dáng nằm uể oải giống các mỹ nhân trong tranh cổ điển, đường nét rất Ingres nhưng phần trang trí lại khá đương đại và lông nách thì phơi ra trắng trợn.

Những cặp đôi chơi đùa, nhảy múa hoặc chỉ nhìn nhau chằm chằm xuất hiện thường xuyên trên các tác phẩm của Valloton. Vừa gợi những lạc thú vừa gợi tính hai mặt của đàn bà. Trong bức Femmes nues aux chats – 1897 (Hai cô khỏa thân với mèo), vẽ thời vẫn còn ảnh hưởng phong cách Nabis, gối nệm thì lộn xộn, phía sau thấy cả một góc nhà tắm, trông như trong một nhà thổ. Hai cô gái, một tóc vàng một tóc nâu, trông như đang giải trí một chút giữa hai đợt khách. Vào những năm 1910, việc hai người đàn bà với nhau thế này còn gây mập mờ hơn nữa. Không khí ở đây nặng trĩu vì những thái độ căng cứng nào đó; có cái gì đó không liên quan và cả sự đối lập giữa hai nhân vật chính.

Cũng vậy, trong bức La blanche et la noir (Cô trắng và cô đen) vẽ năm 1913, có khoảng cách giữa hai nhân vật, nhưng tính hệ thống quen thuộc thì đã đảo chỗ: cô đen, mặc váy áo đeo trang sức, điếu thuốc trên môi, ngồi nhìn soi xét cô trắng khỏa thân đang ngủ ườn ra.

Đầu thế kỷ 20, Valloton vẽ liên tiếp những bức tranh phi lý, lấy cảm hứng từ thần thọai Hy lạp mà ông tự do diễn dịch theo phong cách Bocklin, một người thầy mà ông rất phục. Trong bức Roger delivrant Angélique (Roger giải cứu Angélique – 1907), nguời đẹp ngủ mê mệt trên cát, thờ ơ với trận chiến của Roger (người bảo trợ cô) với con rồng. Bị chế nhạo, bị tuớc danh hiệu anh hùng, đàn ông ở đây bị coi như đồ chơi của đàn bà.

Trong bức Orphée dépecé, thậm chí được cá nhân hóa bởi một đám các bà đang điên cuồng tấn công nhà thơ bằng những móng vuốt, dây gai và đá. Biểu tượng, chuyển dịch, hài hước, hay băng hoại… những hình ảnh lạ lùng này thời đó khiến người ta khó hiểu, nhưng cái nhìn của thời đại chúng ta có thể nắm bắt ở đó tính châm biếm và thẩm mỹ mà ngày nay ta có thể thấy ở các họa sĩ hậu hiện đại.

* phần lớn các bức tranh này đều thuộc các sưu tập của bảo tàng hoặc tư nhân ở Thụy Sĩ

(dịch và đăng trên Soi.today ngày 24/06/2015)

Câu chuyện màu xanh (lá cây)

Đó là màu của sinh thái, và cũng là màu của một số họa sĩ. Đứng thứ hai trong số các màu yêu thích của người Pháp, nhưng màu xanh lá cũng khiến nhiều diễn viên sợ hãi, và màu này không tồn tại trong tiếng Nhật.
Màu nào là màu yêu thích của bạn? Với câu hỏi kinh điển luôn được các viện nghiên cứu và thăm dò dư luận sử dụng để xác định sở thích của người tiêu dùng, màu xanh lá về vị trí thứ hai. Vâng, tất nhiên đứng sau màu xanh dương, nhưng đứng trước tất cả các màu còn lại. Ha! Một tin tức thật tuyệt dành cho màu xanh lá, sau một thời gian dài bị không ưa, bởi nó “không mâu thuẫn thì cũng mơ hồ”, như nhà sử học Michel Pastoureau nhấn mạnh. Ông cũng vừa cho ra một cuốn sách về chủ đề này.

Trong bức tranh Retable du Saint-Esprit (1521) của Lorenzo Lotto, có một chi tiết quan trọng: đôi tất xanh của thánh Antoine (bìa phải). Màu xanh (lá) của trang phục… có thể gợi lên lòng từ bi và hiểu biết.

Làm sao định nghĩa cái màu nổi tiếng làm dịu mắt và tinh thần này?
Màu xanh lá là một trong ba màu cơ bản, cùng với màu xanh dương và đỏ, tạo thành ánh sáng trắng.

Nếu nhóm lại, theo lý thuyết về màu sắc (màu của một vật hình thành từ ánh sáng mà nó nhận và gửi đi), màu xanh lá đóng vai trò quan trọng.
Ngày nay cũng vẫn từ lý thuyết của thế kỷ 18, coi màu vàng là màu cơ bản thứ ba, giáng màu xanh lá xuống hàng phụ là khá phổ biến. Ở phương Tây trước đây hay lẫn lộn màu xanh lá với màu vàng, nguời Hy Lạp thì dùng chung từ: khlôros để chỉ cả hai màu, trước khi người La Mã tách ra với viridis, cũng có nghĩa là thiên nhiên.
Nhưng ở một số nước châu Á, từ “xanh” không có nghĩa là màu xanh dương (bleu), mà nó có nhiều nghĩa, ví dụ như ở Thái Lan, từ “xanh”còn có nghĩa là hôi!
Giới nghệ thuật cũng không tỏ ra dịu dàng lắm với màu xanh lá. Đối với nhiều họa sĩ, cái màu này gây nhiều phiền toái về kỹ thuật. Chất màu khó xác định, khó làm việc, màu có vấn đề với ánh sáng.
Còn màu xanh khoáng (vert mineral) thì quá đắt, trong khi một số tông xanh khác ra đuợc nhờ trộn hóa chất thì lại độc hại. Chẳng hạn, giới diễn viên nhà hát rất ác cảm với màu xanh lá, vì để hào nhoáng một tý, trang phục sân khấu thường được nhuộm với oxyde đồng hoặc cyanure, độc tới mức có thể gây chết người . Từ thời Trung cổ, các họa sĩ thường dùng màu xanh lá một cách cảnh giác, ngay cả những người đã thành thạo với màu xanh lá như Giorgione hoặc Véronèse, nổi tiếng với các bức tranh vẽ gấm vóc xanh lè.

Trong bức “Miniature du Codex Capodilista” (khoảng 1435 – 1440) của Federico Carlotis: thời Trung cổ, trong các lễ rước, các ceremonie thì ngựa thường được khoác một tấm bố xanh, màu của tuổi trẻ và tình yêu (theo ký hiệu của giới hiệp sĩ)

Các nghệ sĩ thường hoài nghi về ý nghĩa rối rắm của màu xanh lá. Chất màu và những khó khăn vốn có khi pha chế nó có nguồn gốc từ sự mâu thuẫn có tính biểu tượng: bất thường, ngẫu nhiên, không ổn định. Nó có thể kết hợp một cách ngẫu nhiên tùy theo may rủi, với hy vọng cũng nhiều như thất vọng. Nó cũng là màu của những quái vật hay sinh vật ma quái: những mụ phù thủy, những “bà xanh” trong rừng, những hiệp sĩ xanh reo rắc sự rối loạn, con quỉ với con rắn trong lu, rồi rồng, cá sấu… Liệu có cần nhắc lại là màu xanh lá là màu của những cơ thể bệnh tật hoặc cái chết?

Màu xanh trong khu rừng của phim hoạt hình “Mononoke”

Đầu tiên là những người theo chủ nghĩa Lãng mạn kích thích những cảm xúc tự nhiên, tiếp đến là những người theo chủ nghĩa Ấn tượng, lấy lại chút uy tín cho màu xanh lá.

Tranh của Claude Monet

Cách đây chưa lâu, những người trung thành với phái Bauhaus còn khoác lên các bức khỏa thân 3 màu: đỏ, xanh dương, vàng; không có xanh lá! Kandinsky thì nhấn mạnh trong tác phẩm Du spirituel dans l’art et dans la peinture en particulier (1911 – “Về trí tuệ trong nghệ thuật và trong hội họa nói riêng”), trong đó ông tả màu xanh lá như “màu gây tê nhất” và “như trong xã hội tư sản: đó là một yếu tố bất biến, hài lòng về cái tôi, bị giới hạn trên mọi hướng”, “như một chị bò sữa to đùng, dồi dào sức khỏe, sinh con, rồi bị đông lạnh, chỉ có mỗi khả năng nhai lại”. Mondrian bồi thêm cú nữa: họa sĩ thú nhận căm ghét màu xanh lá và không bao giờ dùng nó.
Lời chào đón vậy là phải đến từ một lĩnh vực khác: từ y học và các vấn đề an toàn vệ sinh, bắt đầu biểu hiện trong thế kỷ 20. Với những đợt nghỉ phép có lương đầu tiên, xã hội đã cảm nhận được nhu cầu trở về tự nhiên để hồi phục, cách xa những khối nhà xám xịt. Trong thập niên 30, nhiều chính phủ đã ưu tiên cho những khoảng xanh, công viên, quảng trường.. trong khi các bác sĩ nhấn mạnh tầm quan trọng của những hoạt động ngoài trời. Màu xanh lá trở thành màu tiết kiệm và bước vào một giai đoạn may mắn. Nó phủ lên cuộc sống, từ chính trị cho tới cuộc sống hàng ngày: kiến trúc xanh, không gian xanh, hành lang xanh, năng lượng xanh, ôtô xanh..

Với sự ra đời của tổ chức Green Peace năm 1971, màu xanh lá thậm chí trở thành một ý thức hệ.
“Đúng là gió đổi chiều đối với một màu lâu nay không được ưa như màu xanh lá, màu mà ngay nay đang gánh sứ mệnh bất khả thi để cứu hành tinh” – Michel Pastoureau hóm hỉnh.
Và màu xanh lá cũng trở lại trong các sáng tạo đương đại. Fabrice Hyber đang rất say sưa với màu xanh lá. Ngay từ triển lãm đầu tiên mang tên Mutation vào năm 1986 ở Nantes, anh đã chọn màu xanh lá là màu ưu tiên, một màu xanh flashy, màu của mầm non mùa xuân, cái thời điểm mà năng lượng đang rất phấn khích. Trong tác phẩm “Hommes de Bessines” của anh, những hình người 87 cm mọc lên khắp nơi trên trái đất kể từ khi chúng được sinh ra năm 1989.

Màu sinh thái cũng được một số họa sĩ trực tiếp sử dụng, như Lois Weinberger, khi làm việc trên khái niệm thảm thực vật tự nhiên. Những đám cỏ dại mọc ở nơi chúng thấy thích hợp. Một cách để nghệ sĩ thăm dò về quá trình lai hóa, thực dân hóa, di cư… Năm 2012, phía sau nhà ga ở Rennes, anh đã cho đặt hàng ngàn chiếc xô nhựa đựng đầy đất, phơi giữa trời cho gió, cho chim….

Lois Weinberger chẳng gieo hạt gì vào đó nhưng cỏ vẫn mọc lên. Chỉ cần thời gian là nó sẽ um tùm hết các xô nhựa.
Màu xanh bắt đầu chiếm lĩnh tất cả các không gian đô thị, từ đất lên tường của thành phố, nơi giờ mọc lên các sáng tác của Patrick Blanc. Người đàn ông với tóc mái xanh, người sáng tạo ra những bức tường xanh, tự hiện thân cho thái độ xanh (green attitude) của mình. Anh hình dung ra những khu vườn thẳng đứng phủ lên các tòa nhà, bảo tàng, như hình ảnh của Quai Branly.
Trong khi đó, Thomas Struth lại gắn màu xanh lá với một cách nhìn mơ mộng và lý tưởng hóa về thiên nhiên. Trong series New pictures from Paradise, nhiếp ảnh gia người Đức này trình ra một chốn rất bình dị và không cho biết chụp ở đâu: Trung Quốc, Brazil, Nhật, California, hay Đức… Những khu rừng nguyên sinh, dày đặc, yên tĩnh, rực rỡ khi ánh sáng chớm tới,. hứa hẹn một thiên đường không bao giờ mất. Hiện thân cho một thế giới tốt hơn, lành mạnh hơn, công bằng hơn, màu xanh lá có vẻ vẫn còn nhiều ngày đẹp trời phía trước.

Thomas Struth, “New pictures from Paradise”

dịch và đăng trên Soi.today ngày 23/12/2013

Khen và chê quanh Modigliani

Nhân triển lãm Modigliani et l’Ecole de Paris ở Thụy Sĩ (từ 21. 6 đến 24. 11), tạp chí Mỹ thuật Pháp số mới nhất có bài viết sau:

Cũng như Chagall, Soutine hay Utrillo, Modigliani (1884- 1920) là một trong những nghệ sĩ có phong cách riêng hiện đại mà người ta chả biết xếp vào đâu. Người thì cho là ông thuộc nhóm các nhà cách tân (avant-garde), người lại nói ông thuộc phong cách cổ điển kiểu Ingres. Chàng nghệ sĩ Do Thái đến từ Livourne (Toscane) là hiện thân của mẫu họa sĩ bạc mệnh.

Sở hữu vẻ đẹp của vùng Địa Trung Hải, nhưng sức khỏe lại rất mong manh, Amedeo tới Paris lúc 22 tuổi và chết vì bệnh lao phổi lúc mới 35 tuổi. Hai ngày sau, người tình của ông nhảy lầu tự tử chết theo, lúc đó nàng đang mang thai đứa con thứ hai. 13 năm đủ để dệt nên một huyền thọai với những tình tiết đôi khi hơi ma mị, từ chuyên khảo đầu tiên của André Salmon năm 1926, lại càng dầy thêm những vùng mờ ảo trong câu chuyện về Modigliani. Khi thì chơi với nhóm Dã thú, lúc có mặt ở Bateau-Lavoir, nơi ra đời trường phái Lập thể, lúc lại thấy loáng thoáng bên hội Vị lai; Modigliani có vẻ không hứng thú gì với avant-garde. Nghệ thuật của ông có nét nguyên thủy, nhưng ông kiên định đi trên một con đường đơn độc, nơi những đôi mắt hình hạnh nhân, những chiếc cổ kéo dài trong những bức chân dung như tiếng vọng từ bên trong những chiếc mặt nạ châu Phi, hay những bức tranh của Parmesan hoặc Pontormo.

Trung thành với khuôn mặt người, chàng họa sĩ đẹp trai vẽ các bức chân dung và khỏa thân khá nhiều, tới mức triển lãm đầu tiên năm 1917 phải đóng cửa. Paul Alexandre và Leopold Zborowski là những nhà bảo trợ hiếm hoi cho nghệ sĩ này, và thành công đến với Modigliani một cách rụt rè vào năm 1914 với một tác phẩm điêu khắc.

Người ta nghĩ gì về chàng nghệ sĩ thích bình thơ của Dante và Verlaine này? Đối với Vlaminck và Cocteau “đó là một chàng quí tộc mà tạo hình của anh có một vẻ lịch lãm không chê vào đâu được”. Picasso thì bực mình khi cứ phải nghe câu “Modi le maudit” nên đã mua một bức của Modigliani rồi sau đó vẽ thẳng lên đó một tranh tĩnh vật. Nhưng một trong những phê bình cay nghiệt nhất lại chính từ người đồng hương, De Chirico. Trong hồi ký của mình,vị này ám chỉ “một thiên tài kiệt sức – kiểu Modigliani – trên một căn gác lạnh lẽo, khổ sở vì trung thành với lý tưởng cao cả, mơ màng một tuyệt tác mang cho mình danh vọng và tiền tài, nhưng cái tuyệt tác thường lại chỉ là miếng vỏ bánh giòn ngon miệng, như tất cả các chân dung và hình thể của Modigliani”.

Một phong cách lịch lãm buồn bã (Elégance mélancolique), hay một phong cách kiểu cách đơn điệu (manièrisme monotone)? Mời các bạn cùng thảo luận.

Có hai luồng ý kiến trái chiều sau:

Ủng hộ(của Stéphane Guégan – nhà sử học và phê bình mỹ thuật Pháp):

Nói “Có” với Modigliani, chính là thưởng thức không ngừng những chuyển động tinh tế của ông. Nói “Không” với Modigliani, tức là mắt bị đơ rồi, cũng giống sự khô cứng cũ rích kiểu phê bình Pháp. Cũng chả khác gì kiểu bịt miệng bịt tai Max Jacob, Appollinaire, Cocteau và Roger Fry, nếu không muốn dẫn thêm cả Le Clézio nữa.

Những nét thơ mộng tinh tế, những đuờng cong thần kỳ của một phong cách nghệ thuật hiện đại mà không chắp vá các thủ thuật của avant-garde. Một nghệ sĩ lớn lên từ sự dịu dàng của vùng Toscanes tự nhiên phải đương đầu với các thiên tài Paris đang nổi, Cezanne, Gauguin, Van Gogh, Toulouse-Lautrec và người đứng đầu lúc đó là Picasso. Cái nôi Ecole de Paris ấy đang ngập trong nhạt nhẽo, những thỏa hiệp hiện đại. Còn Modigliani, mang trong mình trái tim Florence và bóng dáng Venice, đã từ chối hiến Carpaccio và Bellini, thậm chí cả những đường nét gây hấn của Parmesan cho những sai khiến lúc đó. Trọng ý chứ không trọng từ, trọng nghĩa chứ không trọng nguyên tắc, đó là cái mà ông học được từ Nietzsche và Annunzio, Baudelaire hay Lautréamont. Chàng người Ý đã Pháp trước cả khi đặt chân tới thủ đô của nghệ thuật năm 1906.

Chuyển động đầu tiên, bức Nàng Do Thái (La Juive) năm 1908, đầy gợi cảm trong nỗi đau thống thiết, tranh còn ướt những vệt xanh của Picasso (khi ông này vẽ đè lên trước đó)*. Chuyển động tiếp, bức chân dung Juan Gris, lập thể theo một cách khác, hòa hợp những cách điệu tuyệt vời và đôi mắt đen.
Nàng Do Thái

Chuyển động cuối cùng, chân dung Max Jacob, người ta chưa bao giờ nắm bắt được người mẫu, tính hai mặt (double nature) của apache thế gian, hay một kiểu kabbalist converti, bị giằng xé giữa thánh đuờng Jerusalem và những khoái lạc trần gian.
Chân dung Max Jacob

Modigliani có một phong cách rất riêng, và uyển chuyển, nhất là ở những bức tranh cuối cùng, có lẽ là những bức tuyệt nhất.

Chủ nghĩa hiện đại đã định tặng ông một bữa tiệc phù hoa, nơi mà luật của cái mới không giấu nổi những sự phá sản của thế kỷ.

Ngoài Picasso và Matisse, ai khác có thể phản ứng nhanh đến thế với những cảnh báo của Appollinaire? Sự biến dần của tranh khỏa thân như một dấu hiệu của sự suy tàn nói chung. “Những nghệ sĩ trẻ bây giờ chả quan tâm đến Art khỏa thân, cái chính đáng hơn bất kỳ cái gì khác”.

Nếu bắt Appollinaire phải nói dối, thì những bức khỏa thân gắn với tên tuổi Modigliani kia chắc là đang chế nhạo tầng trời thứ 7, tầng của các họa sĩ vĩ đại nhất.
“Nu Couché au coussin Bleu”, 1916, sơn dầu trên canvas.

Không ủng hộ: (của Thomas Schlesser, nhà báo, nghiên cứu sử nghệ thuật):

Nào, giờ thì hãy mở to mắt ra một tí. Hãy xem chính tác phẩm của Amadeo đi, cũng chả phải khó chịu gì, nhưng những cái xung quanh nó thì sao. Rõ ràng, khi mà Kandinsky, Picasso, Mondriant, Klimt hay Boccioni đang đầy táo bạo, cuồng nhiệt, thì chàng họa sĩ này lại chứng tỏ một sự yếu đuối, ủy mị gần như bối rối.

Thờ ơ với Modigliani, không phải là khinh thường những tư chất cảm động nơi ông, mà đúng hơn là ghi nhận cái “lỗi không may mắn”. Ông mất ở tuổi 35. Ông có ít cơ hội để thể hiện tài năng. Cái thời đó, từ 1905 đến 1920, khi châu lục đang rung lên với sự phong phú về trí tuệ và thẩm mỹ, với những sáng tạo cuồng nhiệt. Khó mà thấy lại trong lịch sử. Có lẽ đó là một chu kỳ tinh hoa tuyệt vời duy nhất, những năm 1500-1520 qua đầu thế kỷ 20, toàn các thiên tài nghệ thuật (sự so sánh giữa hai giai đoạn này tốn khá nhiều giấy mực của giới phê bình ở châu Âu, khoảng cách 4 thế kỷ, đáng được phân tích kỹ càng).

Modigliani làm gì vào lúc nguyên tử được phát hiện, sự lan truyền tư tưởng Nietzsche, rồi chiến tranh thế giới, âm nhạc điện tử, những niềm hy vọng Mác-xít, những cạm bẫy độc tài, rồi tâm thần học sơ khai..? Vâng, những bức chân dung, những tranh khỏa thân, rất dễ thương, rất cảm động, rất bi ai… Ông ấy còn có khiếu đối với phong cách nguyên thủy nữa chứ! Vâng, những hình thể xinh đẹp, màu sắc hài hòa, nào nâu, nào hồng, nào xanh, thật tuyệt phải không? Người ta xem tranh ông, rồi ước ao trở thành người mẫu cho ông vẽ, rồi ra về với hình nộm của mình, với đôi mắt trống rỗng, cái cổ mảnh mai, đôi vai rũ xuống… Tuyệt nhỉ, nhưng thật buồn cười!
Tại sao các hướng dẫn ở trường đại học, các nghiên cứu sắc nét nhất, các khóa học ở các chuyên khoa… lại chỉ dành một vị trí phụ, một vị trí chiếu cố cho Modigliani? Bởi vì, đơn giản là ông ấy không phải ở tầm cao của thời đại mình! Một ví dụ nhé: cái vụ scandale vẻ vang của ông ấy, thật ngon lành phải không, Modi lẽ ra phải cảm ơn sự can thiệp của cảnh sát, và của gallery Berth Weill, nơi ông trưng ra những phụ nữ cởi truồng thấy cả lông mu, trong khi biết bao người đang ngã xuống chiến trường. Lúc đó Modi 33 tuổi và sự kiểm duyệt ấy thật lý tưởng để nuôi dưỡng hình ảnh của một nhà sáng tạo bị nguyền rủa (créateur maudit). Hãy xem trước đó Otto Dix làm gì, (chiến tranh, đó cũng là một sự nguyền rủa tàn bạo chả khác gì việc di cư đến Montparnasse), người Nga thì đang hỗn loạn trong cuộc cách mạng, Egon Schiele thì đang quay trong vòng xoáy địa ngục ở Vienne, thế mà bạn lại cho rằng: cái ông Modigliani này làm xúc động quá, rồi nào là họa sĩ lớn nữa! Họa sĩ dành cho các salon sang trọng của những người có gu, hay là cho các cuộc triển lãm thành công ạ?

(dịch và đăng trên Soi.today ngày 2/7/2013)

Sưu tầm từ nguồn khác:

1. Là hai họa sĩ cùng thời, Picasso lớn hơn Modi 3 tuổi. Picasso ưa cạnh tranh nếu không muốn dùng từ kiêu ngạo, ông luôn hăng hái thể hiện mình là số 1 của Ecole de Paris, trong khi Modigliani thì tính châm biếm chua cay hơn. (Ở đoạn đầu phim cùng tên, Modi hỏi Picasso: “Ông làm tình với cái khối lập thể thế nào? ‘(How do you make love to a cube?). Picasso thì luôn sống trong vinh quang, giàu sang, sống lâu, còn Modigliani thì thường bị ngèo khó và bệnh tật đeo đuổi, và chết trẻ. Mặc dù có sự khâm phục ngầm đối với Modigliani, nhưng Picasso cũng khoái khích bác và hay lôi Modi vào cuộc. Cả hai họa sĩ cũng đã từng vẽ nhau. Cả hai cũng đều có mối quan tâm với nghệ thuật Phi châu và có những ảnh hưởng trong các tác phẩm của mình. Đã có phim về chủ đề này, phim tên “Modigliani” (2004). Theo câu chuyện trong phim, vào buổi tối khi Modi chết, Picasso gửi lời chia buồn với Jeanne (nguời tình của Modi) và cô nói với Picasso rằng: khi nào ông chết, tên của Modi sẽ ở trên miệng ông. Và ở cảnh kết phim có ghi rằng đó là sự thực: khi Picasso chết, ông đã thì thào gọi tên Modigliani! (Các bạn có thể xem phim ở đây)

2. Modigliani không coi là mình bất hạnh. Bạn ông, Chaim Soutine từng hỏi: “Anh có phải chịu nỗi bất hạnh lớn lao nào trong đời không” thì Modigliani trả lời “không”. Còn theo lời kể của nhà điêu khắc Jacques Lipchitz, Amedeo Modigliani đã từng nói rằng chàng ước muốn “một đời sống ngắn ngủi nhưng mãnh liệt”.

Không thành công trong việc bán tranh lúc còn sống, chàng họa sĩ thường đùa rằng: “Tôi chỉ có mỗi một khách hàng mà ông ấy lại mù”. Người bị ám chỉ ở đây là nhà buôn tranh Père Angely.

Sau khi Modigliani chết, có hai đám tang đã được tổ chức, đám thứ nhất do một tu sĩ Do Thái cầu kinh và nhà danh họa bạc mệnh được chôn cất trong nghĩa trang Père Lachaise (Paris), còn đám thứ hai, đơn giản hơn, của người vợ xấu số, chôn bên ngoài thành Paris. Gia đình Hébuterne phản đối cuộc hôn nhân của con gái mình với một người Do Thái, nên đã không cho hai kẻ yêu nhau được an táng cạnh nhau. Tới năm 1923, người anh cả của họa sĩ Amedeo Modigliani là Thượng nghị sĩ Emmanuele Modigliani đã thuyết phục được gia đình Hébuterne cho cải táng di cốt của Jeanne và chôn bên cạnh người chồng bạc mệnh

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly

Francis Bacon trong con mắt các nhà văn

15/10/2020 – Nhân dịp triển lãm Francis Bacon tại Trung tâm Pompidou hồi đầu năm, nhà văn-nhà phê bình nghệ thuật Frank Maubert có cuộc trò chuyện với kênh France-Culture về cuộc gặp gỡ với danh hoạ Francis Bacon.

Xin chào Frank Maubert, cảm ơn đã đến với chương trình. Anh đã viết về những cuộc trò chuyện với Bacon trong một cuốn sách nhỏ được nhà xuất bản Gallimard ấn hành.Ông ấy ưa thích nói về những chủ đề gì ?

F.M : Thực sự là Bacon thích nói về mọi thứ. Tôi khá ngạc nhiên ngay những lần đầu gặp gỡ, ông ấy nói về mọi thứ một cách rất đơn giản. Điều tôi rất phục ở ông ấy là dù thế nào ông ấy cũng rất yêu cuộc sống. Và ông hầu như là tránh nói về tranh pháo.

– Các anh đã nói chuyện về mọi thứ và cùng trải nghiệm một số thứ, thậm chí cả đi chơi, ăn nhậu cùng nhau.. Ông ấy xem ra là một người rất thích thưởng thức cuộc sống (un bon-vivant). Người ta hay nhắc đến sự nghiện rượu của ông ấy. Chắc ông ấy cũng từng tâm sự với anh về điều đó.. Có thể đó chỉ là kiểu như một món ưa thích hay có thể do một sự phiền muộn nào đó trong cuộc sống ?

F.M : Ồ không, chắc không phải do phiền muộn đâu. Nếu có phiền muộn thì rượu đã giúp ông ấy quên đi rồi còn gì. Nhất là khi vẽ ông ấy không uống rượu đâu, ông ấy bảo khi vẽ ông thường uống nước suối cơ, rượu chả giúp gì sất.

– Anh tin thế chứ ?

F.M : Vâng, khi ông ấy nói vậy thì tôi cũng cố tin (cười)

– Anh có nói là hai người đã có nhiều thời gian cùng nhau, nhưng hình như anh chưa bao giờ tận mắt thấy ông ấy vẽ phải không ?

F.M : Tôi tin rằng có rất ít người thực sự chứng kiến lúc ông ấy sáng tác. Thậm chí đôi khi tôi cũng có những ý nghĩ khùng khùng là chả hiểu có phải chính ông ấy đã làm ra các bức họa đó không nữa (cười). Đùa thế chứ tất nhiên là ông ấy rồi. Vì có một họa sĩ Maroc tên là Yacoubi đã tận mắt thấy ông ấy vẽ, và cũng nhiều người nói với tôi về điều đó.

– Francis Bacon – một họa sĩ không bao giờ cạn kiệt cảm xúc, như anh mô tả, đã từng nói: « dù gì thì người ta cũng không thể bàn về hội hoạ. Chả ích gì ! Nghệ thuật là một thứ luôn luôn dở dang ». Bacon cũng không thích người ta bàn luận về tranh của ông ấy. Ông ấy thường từ chối giải thích về tranh của mình. Phải chăng đó là khả năng duy nhất để nói về nghệ thuật của ông ấy ?

F.M : Duy nhất hay không thì tôi không biết. Nhưng có lần tôi đi gặp ông ấy với tư cách nhà báo để tìm hiểu một số điều mấu chốt trong hội hoạ của ông ấy. Ông ấy rất kiệm lời, bởi ông ấy cho rằng hội hoạ là một chốn bí ẩn và mỗi người đều tìm thấy ở đó một phần của mình, thế nên không phải ông ấy là người phải giải thích cái quái gì.

– Vì sao anh muốn gặp Bacon ? Anh đã từng nài nỉ để gặp ông ấy bằng được phải không ?

F.M : Lần đầu tiên tôi phát hiện một bức của Bacon, không phải ở một galerie hay bảo tàng mà là ở điện ảnh, trong một bộ phim đen-trắng ở Paris… Tôi đã thấy hình ảnh một người đàn ông khoả thân vặn vẹo dày vò.. Ngay khi nhìn thấy nó, tôi thực sự bị rung chuyển, và tôi muốn biết nhiều hơn, tôi tự nhủ tôi phải gặp người đã làm ra nó.
– Anh đã gặp ông ấy, và rồi hai người còn gặp nhau nhiều lần sau đó ?

F.M : Vâng, chúng tôi gặp nhau ở London, rồi Paris.. Ông ấy thường gọi cho tôi hàng ngày vào buổi sáng sớm khoảng 6h30. Tôi khá ngạc nhiên, thậm chí lúc đầu tôi còn nghĩ đó là một trò đùa..

– Bacon không phải là người đơn giản. Anh đã gặp ông ấy… Ông ấy vừa điên rồ vừa thiên tài nhỉ.

F.M : Đúng, đúng đấy, đó là một tính cách đa dạng. Ông ấy là người rất khó nắm bắt. Có thể nói đôi khi thậm chí là phi lý. Một họa sĩ phi lý vĩ đại..

– Một số nhà triết học cũng quan tâm tới ông ấy để tìm hiểu nhưng có vẻ ông ấy chả mặn mà gì. Riêng với anh, ông ấy đã tâm sự khá nhiều, đặc biệt là các cảm hứng sáng tác.. thậm chí cả những gì ông ấy đọc. Ông ấy đã nói với anh về những tác giả và những cuốn sách quan trọng với ông ấy ?

F.M : Ông ấy có nói về các tác giả khác nhau, trong đó khá nhiều nhà thơ. Bởi vì thơ là một sự cô đọng các ý tưởng cho ông ấy những loé sáng .. Nhưng không chỉ thế, không phải chỉ là cac tác giả lớn như Eliot hay Shakespeare, mà còn cả những hình ảnh trong phim, trong sách báo cũ .. được cảm nhận và diễn dịch theo cách riêng của ông ấy..

– Nhiều tác phẩm triển lãm kỳ này được sáng tác vào thập niên 70, không thể tìm các mối liên hệ trực tiếp giữa văn học và sáng tác của ông ấy. Có thể nói, có gì đó như là sự chuyển hoá ngôn ngữ viết thành hình ảnh trong nghệ thuật của ông ấy, được giải phóng thành các hình tượng ?

F.M : Đúng rồi, đó là một sự giải phóng.. đặc biệt ông ấy tìm kiếm những hình ảnh rất dữ dội trong những gì mà ông ấy có thể đọc.

Trích đoạn một cuộc phỏng vấn Bacon :
Francis Bacon :  » ừ tôi biết, tôi tạo ra nhữnh hình ảnh.. thế đấy.. những người khác có thể nói cái họ nghĩ về tranh tôi. Còn đối với tôi, khi vẽ xong thì tôi để đó và không nghĩ nữa ».
– Tôi thấy rằng một trong các bức chân dung ông vẽ Michel Leiris, người ta có thể nói ông phải cảm nhận sâu sắc về ông ấy thế nào mới ra được như vậy.
Francis Bacon : « Tôi hy vọng thế, tôi cũng không biết nữa. Thế đấy ! Nhưng tôi vui là anh đã nghĩ vậy. Này anh, tôi vẽ những bức tranh này cho chính tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ sống bằng tranh đâu. Tôi vẫn nghĩ sẽ cố gắng làm việc khác ».
– Tôi biết là ông đã huỷ khá nhiều bức họa.
– Francis Bacon : Ừ.. cũng kha khá..
– Ông là một hoạ sĩ rất khó tính và đòi hỏi cao với chính mình ?
– Francis Bacon : « Cần phải vậy .. mà anh biết đấy, trong hội họa, những người sáng tạo giỏi đều là những nhà phê bình rất ác. »

– Ông ấy huỷ tranh.. Ông ấy đã rất nghiêm khắc với bản thân, hay ít ra là với chính các sáng tác của mình.

F.M : Vâng, ông ấy huỷ khá nhiều tranh. Ông ấy cũng nói với tôi như vậy..

– Vì sao thế ?

F.M : Vì sao ư ? Bởi vì tôi nghĩ ông ấy có những suy nghĩ khá sâu về nghệ thuật, đặc biệt là hội hoạ.. Vào khoảng thập niên 20 khi thấy những bức tranh của Picasso, có gì đó đã xảy ra trong ông ấy, ông ấy nói muốn trở thành hoạ sĩ. Trước đó ông làm về nội thất…

– Dù sao ông ấy cũng đã được công nhận khá sớm, chứ không bị hắt hủi, bị lãng quên như nhiều họa sĩ đương thời khác..

F.M : Không, không giống như đời Vangogh đâu… dù sao cũng có khá nhiều điểm chung với Vangogh đấy nhé, chẳng hạn trong những chấm phá, trong cách vẽ.. cũng gần gần một vài hoạ sĩ khác nữa, nhưng nhìn chung cũng có khá nhiều nét Vangogh trong đó.

– Người ta từng bàn luận về những ảnh hưởng văn học trong các sáng tác của ông ấy và tự hỏi không hiểu có sự diễn dịch hình tượng trong tranh từ ảnh hưởng văn học qua những gì ông ấy đã đọc không, nhưng có một bức tranh mà sau này anh phát hiện trong xưởng vẽ của ông ấy, bức đó có cảm hứng trực tiếp từ thơ của Garcia Lorca về cái chết đúng không ?

F.M : Vâng, ông ấy có nói với tôi lúc đó. Ông ấy mời tôi tới xưởng vẽ, nói là xưởng chứ đó là một căn phòng nhỏ như nhiều căn phòng bình thường khác thôi. Ông ấy đang vẽ dở bức đó và định quay nó úp vào tường để tôi khỏi thấy. Thế là tôi hỏi luôn: cái gì thế ? Ông ấy bảo: .. à, đó là bài thơ của Garcia Lorca về cái chết của con bò tót. Cực kỳ dữ dội và kinh hoàng… Ông ấy nghiên cứu sự tàn bạo, ông ấy cho rằng cuộc sống rất tàn nhẫn và vẽ như thế là còn nhẹ hơn hiện thực rất nhiều…

– Đúng là chúng ta thấy các chủ đề trong tranh ông ấy về sự tàn bạo, về cơ thể con người, sự dễ tổn thương, về cái chết, và thân phận con người..

F.M : Đúng đấy, có thể tóm gọn lại là những thân phận con người… Hiển nhiên là vậy.

– Tôi không biết anh có sở hữu một bức Bacon ở nhà không..

F.M : Ồ, không không… (cười bối rối)

– Có thể là một bức chép lại hay affiche trong phòng khách chả hạn ?

F.M : Không, trước đây tôi có một bức trong nhà tắm.. (cười)

– Nếu như phải chọn một bức của Bacon, anh sẽ nói…

F.M : Có thể là một bức về Đóng đinh trên thập giá hay một bức về sóng biển ông ấy vẽ giai đoạn cuối, hay là một nhân vật kiểu chủ ngân hàng… nhưng dù gì thì nó cũng kể câu chuyện về sự khốc liệt của các bản thể, trong những trạng thái thất thần, cô đơn tuyệt vọng … Ngay cả khi ông ấy vẽ một con vật như con chó chả hạn ..

– Những khốc liệt thực tế đó trong đời sống đã tác động ông ấy .. Bacon cũng ảnh hưởng nhiều từ văn học, nhưng chính ông ấy cũng là nguồn cảm hứng cho các nhà văn. Vậy anh thấy gì ở ông ấy ? Có sự đồng điệu nào mà anh đã kết nối và phát triển cùng ông ấy ? Có vẻ cũng khá trầm và nặng phải không ?

F.M : Vâng, khá nặng đấy ! Không có sự thư giãn ở tranh của Bacon đâu, nhưng nó rất tuyệt vì có biết bao thứ mà ta có thể tưởng tượng, nó vừa vô lý vừa bí ẩn.. nó cho những khả năng mà mỗi người đều có thể thấy mình ở đâu đó…Mà không phải là chỉ tưởng tượng đâu. Cuộc sống riêng của ông ấy thậm chí còn tệ hơn cả những gì ông ấy vẽ nữa ý chứ, ít nhất cũng có 3 vụ tử tự kinh khủng của những người gần gũi thân cận nhất với ông ấy ..

– Vâng, như anh viết, ông ấy dễ vỡ, nhưng cũng cực kỳ lịch lãm và nồng hậu. Người ta cũng không thể tả ông ấy như yêu quái được 🙂

F.M : Tôi nghĩ rằng ông ấy có tính cách đa đạng, nhiều góc cạnh. Ông ấy hoàn toàn có thể là một người lịch lãm, tế nhị ở mặt này, và rồi bốc đồng, hung hăng ở một mặt khác.

Trích lời Bacon: « Tôi vẽ theo figuratif (phong cách biểu hình) bởi vì tôi chả quan tâm đến trừu tượng, và tôi nghĩ mục đích của hội họa không phải là để trang trí. Nên nhớ, nghệ thuật là nhân tạo. Ừ cũng có một khía cạnh trừu tượng nào đó, nhưng figuratif muốn đi xa hơn, bởi vì sau cùng thì trừu tượng chả có lý gì trong khi với figuratif ta luôn có lý do để bắt đầu và trở lại, trở lại với sự thật bằng cách đi vòng, một đường vòng lớn.. »

– Bacon đã đi một vòng lớn. Còn nhà văn Maubert thì từng kể về những tai nạn, sự tình cờ, tính ngẫu nhiên.. trong quá trình sáng tạo của ông ấy.

F.M : Điều đó rất quan trọng. Người ta đã nói nhiều về các sự kiện tình cờ, những tai nạn trong cuộc đời ông ấy. Ông ấy cũng là một tay chơi lớn đấy nhé. Ông ấy từng chơi sòng bài nơi mà phần nhiều là các ngẫu nhiên may rủi tình cờ, so với các trò khác..- Người ta có thể nói về tranh Bacon, về những góc tăm tối tàn bạo nơi con người. Ông ấy lột trần sự tàn bạo .. Có gì đó gần với Caravage ở mức độ căng thẳng, như ông ấy vẫn nói « chạm tới hệ thần kinh của nguời xem ».

Olivier-Giesbert : « Tôi rất phục Bacon, nhưng tôi nghĩ gần như là không thể nào mà yêu đuợc. Thật khủng khiếp khi phải thấy những gì trong tranh của Bacon..Tôi không biết có chịu được không. Tôi thích sống trong thế giới của Cézanne, có lẽ tôi thích sống trong những bức tranh bình yên hơn.. Chứ mà có một bức của Caravage hay Bacon trong nhà thì … kiểu như bắt buộc phải nghĩ về cái chết từng giây phút một ý. »

Nhà văn Yannick Haenel: « cái yếu tố kịch tính trong tranh của Caravage từ nền đen sẫm của thế kỷ 16, chúng ta thấy lại trong tranh Bacon, hoàn toàn cách biệt với tính lý tưởng hoá. Tôi nghĩ cả Caravage và Bacon đều căm ghét chủ nghĩa lý tưởng. Họ từ lâu đã hiểu thời Phục Hưng qua rồi, và sự hoà hợp của đời sống với trang trí chỉ là giả dối. Cả hai đều chống lại sự giả dối đó bằng hành động. Cơ thể thì trần trụi , bộ phận sinh dục phơi ra đó, tính khốc liệt tự nó mang sự liên kết xã hội.. Và họ vẽ điều đó chứ không phải là yêu thích điều đó. Họ không phải là những người đứng về phía thiện hay phía ác. Cũng như nhiều nghệ sĩ lớn khác, họ chứng kiến một cách mãnh liệt những gì diễn ra. »

Vẽ – đối với Bacon là một nhu cầu sống còn, như anh cũng đã nói: « Nghệ thuật là một tiếng thét để tuyên chiến với sự ngột ngạt. »

Bài hay quá nhưng dài nên tạm dịch các ý chính để lưu giữ. Bạn nào cần thì xem bản gốc ở đây nhé.

https://www.youtube.com/watch?v=fZTO3nK11ds

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly

Tôi ngồi mẫu cho Picasso

Phải kể ra chuyện này cũng ngượng thật. Mà không thể tin nổi đó là tôi nhé. Chưa kể  là tôi đã không hề nằm phô ra cái kiểu như vậy. Trong hình nhìn tôi có vẻ không được tự nhiên lắm. Nói thẳng ra, trông như thằng pê đê !

Hồi đó tôi mới có 23 tuổi . Tôi sống giữa khu Mougins và Valbonne, ở nhà bố mẹ, những người Ý nhập cư . Hiển nhiên, tất cả mọi người trong khu đều biết danh Picasso. Người ta vẫn biết là đôi khi ông gặp đám thanh nữ ở chợ và mời họ làm mẫu cho ông vẽ. Tất nhiên là cũng có những người muốn thử xem sao. Hồi đó người ta thường gọi việc đó là “Picasting”. Tôi cũng quen một cô gái đã từng ngồi mẫu cho Picasso. Nói chung đa số là gái thôi. Rồi thế quái nào mà cuối cùng nó lại rơi vào tôi. Cần phải nói là tôi có hình thể của một vận động viên đấu vật. Hồi năm 1971 khi tôi còn là cậu nhóc, thể thao đã khá phổ biến rồi. Người ta tổ chức các trận bóng cho bọn trẻ ở những hội phường, ít bạo lực hơn, nhưng cũng không khác mấy trò của những thằng hề. Hồi đó tôi chả khoái gì bọn trẻ ranh. Mỗi khi nghe bọn chúng cười phá lên, tôi hay có cảm giác chúng giễu mình. Nói chung hồi đó tôi khá quậy.

Rồi, giờ lại còn Picasso nữa, khỉ thật, thôi được, tôi sẽ không từ chối. Ông ấy  hẹn tôi  trong xưởng vẽ  phía  sau nhà ông. Rất nhanh, tôi phải khỏa thân hoàn toàn và nằm dài ra. Và ông ấy vẽ. Thời gian bằng một điếu thuốc treo trên miệng ông. Khi người ta nói rằng ông ấy có 90 chiếc tẩu, tôi không tin. Hôm đó ông mặc quần soóc, áo kẻ carô, ánh mắt sắc nhọn, pha chút giễu cợt. Cũng có thể ông ấy giễu tôi thật.

Trước khi tôi về, ông vẽ khuôn mặt tôi. Có thể nói đó là sự pha trộn giữa đầu của một con người và một con vật. Một người bạn có hiểu biết về hội họa nói với tôi rằng đó là một lọai thú hoang. Khi về đến nhà, tôi hơi cảm thấy xấu hổ. Tôi không nói gì với bố mẹ . Ngồi mẫu khỏa thân lông lá như thế, dù là ngồi cho Picasso vẽ đi nữa, theo bố tôi thì cũng chả khác gì con điếm. Tôi giấu bức họa trong tờ l’Equipe, vì hồi đó bố tôi thường hay đọc tờ này.  Đó là trang mà người ta nói về Eddy Merckx, người  giành giải cuộc đua xe đạp vòng quanh nước Pháp lúc bấy giờ, và ở cuối trang có mẩu quảng cáo của Petrole Hahn. Tôi vẫn chưa quên cái số báo đó, rồi các bạn sẽ hiểu vì sao. Tôi đã giấu tờ báo đó trên nóc tủ quần áo. Nếu có thể giấu được cả cái tủ, chắc tôi cũng đã giấu luôn.

Picasso chết 2 năm sau đó và cha mẹ tôi cũng lần lượt ra đi, cứ như là họ hẹn nhau ấy. Đầu những năm 80, tôi cùng vợ dọn đến ở khu ngọai ô thành phố Nice. Chúng tôi sống trong một tòa tháp cùng với một con mèo. Một hôm tôi đi làm về và nhìn thấy tờ l’Equipe trong đống lộn xộn. Vợ tôi đã lót nó bên dưới thức ăn cho mèo. Chúng tôi vẫn thường đặt một tờ báo phía dưới như thế để thấm ẩm. Và hôm đó, con mèo của tôi đã ị một bãi lên ngay bức họa của Picasso.

Khi tôi kể lại câu chuyện này, ai cũng cho tôi là có vấn đề về thần kinh. Họ nói tôi bịa. Tôi không có bằng chứng, bức họa thì có lẽ lưu lạc đâu đó, nhưng tôi không thể biết nó ở đâu. Tôi gọi điện cho bảo tàng để hỏi. Họ nói với tôi là Picasso vẽ rất ít mẫu nam khỏa thân. Vẽ cặp đôi khỏa thân thì có, nhưng mẫu nam khỏa thân một mình thì rất hiếm.

Rồi một ngày, trên Internet, tình cờ tôi nhìn thấy một bức tranh. Lúc đầu tôi nghĩ đó là người khác. Nhưng thật lạ lùng, tôi nhận ra chính mình. Giống như một người bị bỏng nhìn lại mình trong gương lần đầu.  Nhận ra mình, nhưng bị biến dạng. Mà không chỉ khuôn mặt bị biến dạng đâu nhé. Nó trông cứ như một con gà bị banh ra… Hai bàn tay to như lá cọ, hai bàn chân như con voi… Kìa sao ông ta lại còn  bớt ngón chân của tôi đi nữa, lão già này… Bất chợt tôi thấy lo lắng. Rồi tôi đếm lại từng ngón chân mình,  tôi đủ 10 ngón chân mà… Nhưng cái khiến tôi thấy phiền lòng nhất chính là một cái chấm đen nho nhỏ. Đó là hậu môn của tôi ! Trời ạ, thề là tôi không hề giơ hậu môn  ra cho ông ấy  xem. “Nghệ sĩ” quái quỉ gì thế này, tôi chả chìa cái của nợ ấy ra cho ai xem bao giờ. Ngay cả khi đi  nội soi đại tràng, bác sĩ cũng phải van xin mấy lần tôi mới để cho khám một tí. Thế mà….

Sau này , tôi tìm lại được số tạp chí l’Equipe đó ở một hiệu sách cũ. Thỉnh thoảng tôi cũng mua tạp chí l’Equipe để đọc,  và tưởng tượng bức tranh vẫn ở đó.

(Tạp chí Mỹ thuật Pháp, tháng 3 năm 2014)

*Tác giả Jonathan Lambert là cây bút viết truyện hài của tạp chí Mỹ thuật Pháp.
Tranh: “Người đàn ông khỏa thân nằm” (L’homme nu couché), Picasso – 1971

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly