Tôi ghen là tôi yêu

Trò chuyện về Proust với nhà triết học Nicolas Grimaldi.

– Vì sao ông quan tâm tới chủ đề tình yêu ở Proust ?
NG: Lý do đầu tiên là không có từ nào thường trực trong cuốn La Recherche hơn từ « tình yêu », trong khi nó lại có vẻ chả yêu gì cả. Những nhân vật duy nhất có khả năng yêu là bà và mẹ của nhân vật chính, những người cực kỳ quan tâm đến những gì diễn ra với anh ta, có nghĩa là cũng diễn ra với người khác. Lý do thứ hai khiến tôi rất quan tâm đến « tình yêu » ở Proust là ông ấy như tóm lược những liên hệ giữa tưởng tượng và nhận thức, giữa thực và ảo. Sự nhận thức, đó là những gì ta thấy được. Còn tưởng tượng là những gì ta không thấy. Hoặc, tất cả các bi kịch tình yêu kiểu Proust chính là những gì mà người ta không thể nhận thức từ sự tưởng tượng mãnh liệt.
– Ông đánh giá « tình yêu » ở Proust thế nào ? Vô lý, bệnh hoạn hay không lành mạnh ?

NG: Tình yêu được Proust tả thường xuyên như một căn bệnh. Proust viết rằng tình yêu là « một sự tra tấn lẫn nhau », giữa người ghen và người bị ghen, giữa kẻ nói dối và kẻ nghi ngờ.. Tôi cho rằng Proust là trường hợp duy nhất mà tác giả trình bày tình yêu như một hệ quả của ghen tuông chứ không phải ngược lại. Sự ghen tuông không theo sau tình yêu, nó đến trước. Swann chưa bao giờ yêu Odette, hoặc rất rất ít. Anh ta thấy cô không ưa nhìn, thậm chí anh ta cũng không có ý định đặt chân vào nhà khi đưa cô về sau buổi đi chơi tối. Hàng tháng trời anh chỉ đi chơi với cô như vậy và cũng chả có gì hơn. Anh nghĩ rằng cô yêu anh, nhưng anh thì không yêu cô. Và rồi tới một lúc anh bị ám ảnh bởi tất cả những gì cô ấy có khả năng làm…

– Rồi điều gì đã xảy ra ?

– Một buổi tối, Swann hẹn hò một « cô công nhân xinh tươi mũm mĩm như một đóa hồng », do đó anh đến chỗ Verdurin hơi muộn. Odette đã nói với anh rằng cô ăn tối ở nhà Prévost. Anh đến tìm cô nhưng cô không có ở đó. Rồi anh tìm cô ở những nhà hàng khác nhưng cũng không thấy, thế là anh bắt đầu cảm thấy lo lắng, càng lúc càng bất an tới mức không chịu nổi nữa. Anh thấy cần Odette để xóa bỏ nỗi đau của sự vắng mặt. Sự hiện diện của cô có tác dụng giảm đau. Tình yêu như một liều thuốc Doliprane vậy. 

– Ông từng viết rằng đó là những kiểu tình yêu bị trẻ con hoá bằng sự lo lắng ?
NG: Vâng, tình yêu dành cho một người bắt đầu khi niềm vui được thay thế bởi nhu cầu lo lắng vớ vẩn, vô nghĩa và đau đớn để sở hữu được nó. Tình yêu kiểu Proust không bật ra từ sự hoàn hảo, duyên dáng hay độ lượng. Nó bật ra từ bất an đau khổ. Đó là một châm ngôn trở đi trở lại 30 lần ở Proust. Nói cách khác, người ta không yêu bởi vì cảm thấy hạnh phúc mà chính nỗi đau ta trải nghiệm khiến ta yêu. Một ví dụ khác, nhân vật chính hẹn hò với bà Stermaria. Anh chờ bà đi ăn tối. Anh hy vọng ăn tối xong thì qua đêm với bà. Nhưng bà đã không đến. Có người bấm chuông, đưa thư cho bà, và bà Stermaria đã từ chối. Anh ta cũng đã chuẩn bị trong trường hợp nếu bà không đến thì sẽ dự phòng Albertine. Anh nói cô có thể đến, nhưng rất lâu cô mới tới nơi. Cái sự chờ đợi khó chịu này, nói đúng ra khiến anh ta yêu. Tôi cần cô ấy, như vậy là tôi yêu, dù tôi cũng chả quan tâm cô ấy lắm.

– Như vậy, nhân vật chính không yêu Albertine ?
NG: Qua mỗi phút, anh ta chuyển từ cảm xúc này qua cảm xúc khác, từ ghét sang thích đến lúc nhận ra mình bị cô ta hấp dẫn..
– Đó là cái mà ông từng gọi là sự đảo ngược vĩnh viễn ?

NG: Đó là một con lắc dao động. Không có gì kém ổn định hơn tình cảm yêu đương. Cũng như với nữ công tước Guermantes : »tôi thấy ngay sự duyên dáng của nàng từ xa và ngộp thở khi tôi gần nàng… » ; Một điều nữa mà tôi muốn lưu ý là làm sao anh ta có thể tỏ tình với bất cứ cô gái nào mà anh ta nhìn thấy trên xe đạp.

– Đó là một kiểu thú vui vớ vẩn..
NG: Thậm chí đôi khi ngay trên bản tin của một tờ báo, anh ta thấy một cái tên. Anh ta chả biết gì về người đó, thậm chí chưa bao giờ gặp, nhưng vẫn thấy yêu chỉ vì anh hình dung có thể gặp cô gái ấy. Đó là những phụ nữ anh chưa bao giờ gặp, chưa bao giờ chạm mặt, tuy nhiên đủ để ám ảnh anh bởi vì đó là một vật tưởng tượng của anh. Tôi nói rõ đấy nhé: một vật .

– Bởi vì một vật thì không có đời sống. Nhân vật chính có vẻ thích Albertine khi cô ngủ. Khi người ta nghĩ tới đó, toàn bộ tập V, « Nữ tù nhân » khiến một người đàn ông giam đối tượng khát khao của mình quan tâm.

NG: Ở Proust, ý tưởng này thường đến khi ôm ai đó vào lòng mà ta không biết là vì khao khát hay vì chờ đợi điều gì. Có gì đó rất dữ dội: tất cả tình yêu đều muốn xóa đi sự khác biệt ở người kia. Anh ta muốn biết tất cả, muốn sở hữu hoàn toàn.  

– Ở đoạn đầu của nỗi sợ hãi này, có một sự phấn khích trong tưởng tượng, một sự gián đoạn ?
NG: Tình yêu là đi xuyên qua sự tưởng tượng. Có nghĩa là thực tế của người được yêu chả có nghĩa lý gì trong tình cảm mà ta dành cho người đó. Đó là một dạng hờ hững đối với người thực sự hấp dẫn. Nó thực sự là một căn bệnh.


– Khi đọc ông, tôi đã nghĩ tới André Green, người viết về những trạng thái ranh giới giữa tâm lý và loạn thần, khi mà cảm giác lấn át thực tế. Mới đây, sự chẩn đoán về « tính cách biên » (personnalité borderline) trong trạng thái ranh giới, đã được áp dụng lên Proust bởi Anne Elayne Bernstein – giáo sư tâm lý tại Đại học Columbia. Ông nghĩ sao về điều đó ?

NG: Trong phân tâm học của Freud, mối liên kết với người khác có lẽ là mối liên kết tự nhiên với người mẹ. Có nghĩa là tôi ý thức về người khác, đồng thời (nếu không muốn nói thậm chí trước đó) tôi ý thức về bản thân. Trong khi ở Proust, người kia chỉ tồn tại trong  trạng thái tưởng tượng, kiểu như thờ ơ với sự tồn tại của họ, với những gì anh ta cảm nhận hay chứng tỏ. Người kia chỉ là một cơ hội gia tăng, tiến triển và thêm sức sống riêng, trải nghiệm riêng của anh ta. Người được yêu là người mà ta muốn sở hữu bằng cách chiếm đoạt một cách khá du dương, có thẩm mỹ, có nhịp điệu, có sự mãnh liệt và giai điệu sinh tồn của nó.
– Sự tưởng tượng về sở hữu hay niềm khát khao vô thức được sở hữu phải chăng sinh ra từ một nỗi sợ hãi cô đơn ?
NG: Chắc chắn có một nỗi lo sợ cô đơn không thể chịu nổi đâu đó. Hãy để ý mà xem, sự cô đơn là « không thể chia sẻ » . Cái ấn tượng ở Proust, đó là sự nghiên cứu về một bản thể bất kỳ nào khác, tôi dám nhấn mạnh lại rằng: bất kỳ bản thể nào. Cả cuộc sống chính nó luôn thiếu thốn. Và anh ta mong chờ tình yêu sẽ « trói » mình lại . Tình yêu ở Proust là một tình yêu không bao dung, một tình yêu khát khao nhận, đón nhận và hưởng. Đó là một tình yêu săn mồi, một tình yêu không cho đi, chả có gì để cho..

– Ông nói rằng nhân vật chính hơi béo và có vẻ đáng ghét.
NG: Chúng ta đã bỏ qua việc đề cập đến một trong những đặc điểm tâm lý chủ yếu ở Proust. Đó là cái tôi ngạo mạn của người kể chuyện. Anh ta luôn nói về mình như một nhân vật hấp dẫn, chói sáng. Anh ta gặp gỡ những cô bé ở Balbec. Anh ta muốn làm họ lóa mắt, cho họ  thấy hình ảnh của một nhân vật đặc biệt. Ở đó có một cái tôi gần như hơi cuồng, anh ta tự cho là không ai sánh bằng. Và do vậy, anh ta khao khát được yêu như một người không thể bị quên. Vả lại, chả có gì ít thô lỗ hơn đối với Albertine. Một hôm ở Balbec anh ta không đến chỗ hẹn vì mỗi lý do rằng chả có gì quan trọng đối với người khác mà lại thực sự quan trọng đối với anh ta cả. Kiểu rất chảnh và những ý thích bất chợt của anh ta bỗng thành luật.
– Albertine đã bị đối xử không khác gì một con chó mà anh ta huýt sáo mỗi khi cần.
NG: Người kể chuyện tỏ ra thích thú về sự ngoan ngoãn của Albertine. Ví dụ, khi cô ấy đi dạo ở Trocadero, anh ta cho người hầu Françoise đi kiếm và cô ta cũng vâng lời. « Không cần phải chăm sóc thì cô ta vẫn xem tôi như chồng và người chủ .. », anh ta viết.
Khi chiếm đoạt một phụ nữ, tuy nhiên ta chỉ có thể ảo tưởng sở hữu cô ấy.
– Nhưng Albertine, liệu cô ấy có yêu anh ta không ?
NG: Cô ấy yêu khoái cảm, và cô hưởng thụ sự cảm nhận đó. Khi cô ấy gặp anh ta, có thể nói cô ấy thậm chí không chọn. Tôi không chắc có thể gọi đó là tình yêu. Tôi muốn gọi nó bằng ngôn ngữ latin, libido, sự nhục cảm hay nhục dục. Còn tình yêu, tôi thấy rằng trong tình yêu có một chiều sâu gần như tôn giáo, ở đó có sự tận tụy, sự hy sinh mà không một nhân vật nào của Proust có thể làm gương.

– Một trong những cuốn sách của ông có tiêu đề: thử nghiệm về tính ghen tuông, địa ngục kiểu Proust. Có phải trí tưởng tượng phi mã luôn kích hoạt sự ghen tuông ?
NG: Sự ghen tuông là một địa ngục hai tầng. Đó là sự tra tấn đối với người ghen, người bỗng cảm thấy không còn tin vào bạn tình của mình nữa. Anh ta có thể luôn ngờ vực tất cả. Phía bên kia là người được yêu, người luôn bị ngờ vực và không thấy không gian riêng của mình nữa. Nửa kia của cô luôn muốn biết tất cả, nói một cách khác, cô ấy chả còn nội tâm riêng nữa. Ở Proust, tất cả tình yêu đều ghen tuông và sự ghen tuông mang tính điều tra.
– Ông đã mô tả sự ghen tuông ở Proust bằng hình ảnh. Một nội cảnh, kết quả của một trí tưởng tượng bệnh hoạn.
NG: Sự ghen tuông tự nó sinh ra, đó là một bệnh lý về tưởng tượng. Ở Marcel Proust, sự tưởng tượng khiến chúng ta câm lặng bên trong cái mà người ta gợi đến….Nó làm hiện hữu cái mà người ta cố gắng thể hiện. Đó là một bối cảnh. Ta sống cái mà ta tưởng tượng. Và vì vậy ta chả bao giờ tìm thấy trong thực tế cái mà ta đã sống trong tưởng tượng. Cũng vậy, Balbec quyến rũ nhân vật chính ngay cả trước khi anh ta đến đó.

-Như vậy ở Proust, hạnh phúc sẽ có nghĩa là khi thực tế và tưởng tượng hoà hợp chứ không mâu thuẫn, như trong đoạn về bánh madeleine ?

NG: Có khoảng 7,8 ví dụ như vậy… Tiếng gác chuông ở Martinville, sương mù ở Doncieres, tiếng lách cách của chiếc thìa nhỏ… tất cả những cái đó.. là sự xâm nhập vào một niềm hạnh phúc phi thường. Một phát hiện lớn lao ở Proust, đó là: làm sao để trả lại những gì mà chúng ta nhận thức cũng mãnh liệt như khi tưởng tượng.

– Trong văn chương mà ông nghiên cứu, có những tình yêu người lớn hơn không ?

NG: Simenon thì gần như trái ngược với Proust. Ở anh ấy có tình yêu khá rộng lượng. Tình yêu là cái mà người kia quan trọng hơn ta. Tôi tận tụy với người kia để hoàn thiện chính bản thân. Nhưng cũng cần phải nói rằng, ở anh ấy, một kinh nghiệm thường trực và hiển nhiên nhất, đó chính là sự cô đơn. Những mối liên hệ trưởng thành hơn là những cái khi mà hình ảnh về chính mình không tự nhân lên theo hình ảnh mà người khác có về mình. Không cần lòng trắc ẩn, không cần trợ giúp, chúng ta chỉ đơn giản là ngạc nhiên về nhau. Trong những năm đầu tiên, tôi nghĩ về tình yêu giữa Benjamin Constant và bà Staël. Hay tình yêu của nhà thơ Anh Elizabeth với Robert Browning với sự khâm phục lẫn nhau.

– Ông có gặp tình yêu kiểu Proust trong những tác phẩm khác không ?

– Ồ không, không. Như vậy thì phải bắt đầu ghen tuông mới sinh ra yêu đương được. Và tình yêu bắt đầu bằng ghen tuông thì tôi chưa từng thấy ở đâu khác… Khi nói tình yêu bắt đầu bằng ghen tuông cũng như nói rằng niềm vui yêu đương bắt đầu bằng nỗi lo lắng đau khổ đáng sợ. Không có niềm vui trong tình yêu kiểu Proust. Tình yêu ở đó là một sự ngắt quãng điên rồ với những ngờ vực sinh ra từ sự thờ ơ.

– Chúng ta vẫn còn xa cái quá trình đúc kết của Stendhal ?

– Sự kết tinh ở Stendhal bắt đầu bởi sự tưởng tượng cuộc sống biến hóa theo sự hiện diện của người kia. Như vậy, nó là tác phẩm của trí tưởng tượng, hình dung cuộc sống của ta sẽ nhẹ nhàng hơn nếu ta có người khác bên cạnh. Sau cùng thì, người phụ nữ hay người đàn ông mà ta yêu sẽ là một diễn viên mà ta mơ rằng anh ấy hay cô ấy sẽ đóng vai mang đến cho ta những gì ta muốn trong cuốn phim cuộc đời mình. Ở Proust thì hoàn toàn ngược lại. Tất cả bắt đầu bằng lo âu, bằng đau khổ.

(dịch từ số đặc biệt Nouvel Obs 12/2022)

Annie và Proust

Các nhà văn cũng hay nói về nhau. Và trong số đó Proust là người nói to hơn những người khác. Annie Ernaux có một cách diễn tả thú vị về điều đó: « La Recherche là một tác phẩm bắt buộc đối với các nhà văn. Giống như các tín đồ công giáo thế kỷ 17 bắt chước Chúa Jesus vậy ».

Annie Ernaux có phải là fan của Proust không ? Nhìn qua thì nhà văn này không phải style của bà. Trên thực tế, ông là đàn ông và có râu. Còn bà, một phụ nữ từng nói khá nhiều về việc « viết văn bằng cả cơ thể của mình ». Thẩm mỹ của họ khá khác nhau. Một người thì nổi tiếng về những câu dài  dằng dặc cùng niềm say mê gần như huyền bí về phép ẩn dụ. Đối với ông, đó là thứ « duy nhất có thể tạo ra một dạng bất tử trong phong cách ». Còn người kia thì ưa thích cách ‘viết phẳng » thong thả theo chủ nghĩa tối giản. Một người thì dựng lên một nhà thờ khổng lồ nơi mổ xẻ những quyến rũ và lố bịch của một xã hội trần tục ưa ăn uống và đi dạo. Người kia thì thường xây những nhà nguyện kiểu francisco để nói về cảm giác đau đớn đã « phản bội » cái môi trường bình dân mà bà xuất thân.

Subscribe to get access

Read more of this content when you subscribe today.

Nguồn: L’OBS hors-serie tháng 10/2022

Annie Ernaux: « văn học chưa bao giờ trung lập »

Lời giới thiệu: sau cuộc họp báo với nhà xuất bản Gallimard, Annie Ernaux đã đồng ý một cuộc trò chuyện đặc biệt với kênh France Inter. Bà tâm sự về cha mẹ – những người từ nông dân trở thành tiểu thương, vai trò của trường học, của những cuốn sách .. những thứ giúp bà thay đổi môi trường sống và trở thành nhà văn. Bà định nghĩa việc viết như một cách để đạt tới hiện thực, hiện thực của người phụ nữ, tất nhiên, nhưng cũng cả hiện thực của phe thống trị ..
Độc giả biết ơn Annie Ernaux về cách thể hiện tình yêu của bà, về cảm xúc và sự tôn trọng mà bà đón nhận với sự khiêm tốn như khi bà nghe radio trong bếp đưa tin giải Nobel văn học năm nay được trao cho bà. Phản ứng đầu tiên của bà vào giờ phút đó như thế nào ?
Annie: Tôi rất ngạc nhiên khi nghe tin, có cái gì đó bỗng dưng trống rỗng giống như khi bạn không nhận thức được điều gì đang xảy ra với mình. Phải mất một lúc lâu tôi mới tin rằng tôi thực sự được nhận giải Nobel. 
Đó là một trách nhiệm lớn lao nối tiếp sự cam kết trong việc viết văn của tôi.
– Bà đã nói đến « trách nhiệm » gần như ngay lập tức trên truyền hình Thụy Điển khi vinh dự được nhận giải Nobel và cũng là một trách nhiệm lớn lao. Bà muốn nói gì qua điều đó ?
Annie: Tôi muốn nói rằng bằng công việc viết văn của mình cũng như nhiều việc khác đặc biệt khi được nhiều người biết đến, nhất là trong việc viết một cuốn sách, tôi cảm thấy rằng tôi có một cách thức diễn đạt những từ ngữ có khả năng gợi mở cảm xúc nào đó, hay cách diễn đạt riêng trong việc chống lại sự nghèo đói, sự bất bình đẳng giới … Tôi nghĩ rằng văn học không trung lập, văn học chưa bao giờ là trung lập, dù nói một cách mượt mà hay một kiểu viết đẹp thì cũng như một cách để che giấu sức mạnh của nó.
– Một hành động, một cách vận hành, có phải không ?
Annie: Một hành động đối với những người đọc và cả những người không đọc.
– Bằng cách nào vậy thưa bà ?
Annie: Ví dụ, có nhiều người chưa đọc tôi, và có thể cũng không muốn đọc, nhưng họ nghe thấy những điều tôi nói qua những kênh khác như trường học chẳng hạn..
– Bà đã từng là giáo viên phải không ? Nhiều bài văn của bà cũng được đưa vào nghiên cứu ở trường học hiện nay..
Annie: Đúng vậy, tôi còn nhớ đã từng nói với các học trò của mình.. Không, văn học không trung lập. Tôi thấy điều đó khá quan trọng.

– Hội đồng trao giải Nobel nói rằng bà được trao thưởng về sự dũng cảm ở chỗ bà nhận ra gốc rễ, sự ghẻ lạnh, sự hạn chế của tập thể, về ký ức cá nhân.. nhưng đặc biệt về lòng dũng cảm, bà cảm thấy điều đó thế nào ?
Annie: Lòng dũng cảm đối với tôi không chỉ là ngồi vào bàn và cầm bút viết, mà có rất nhiều dạng thức khác nhau chúng ta thấy hàng ngày trong những công việc thường ngày, những công việc chân tay, chăm sóc mọi thứ.. hay chúng ta nói về lòng dũng cảm của người Ukraina..họ thực sự dũng cảm.. còn công việc viết thì đúng ra đó là một may mắn được viết, phải không ?
– Bà không thích lắm khi người ta nói rằng bà là một nhà văn cam kết, điều đó đối với bà như thuộc về một thời kỳ khác ?
Annie: Đúng vậy, đối với tôi, khi người ta nói về một nhà văn cam kết, tôi nghĩ đến Jean Paul Sartre hay thậm chí là Camus..

– Nhưng một cuốn sách dù sao cũng có một cam kết nào đó ..
Annie: Đúng vậy, tôi cũng có những cam kết trong các cuốn sách của mình..

– Bà xuất thân từ một môi trường nghèo khó và đã thoát ra nhờ các cuốn sách của mình. Ngày hôm nay khi được nhận giải Nobel và nhìn lại thời đó bà cảm thấy thế nào ? Trong buổi họp báo bà có nói một câu là « để báo thù cho nòi giống của mình » , một câu khá mạnh..
Annie: vâng, đó là một cách nói khá mạnh mà tôi hay dùng từ hồi 22 tuổi, thỉnh thoảng tôi vẫn dùng. Nó như một quyết tâm tôi cũng không biết vì sao nữa …ý tôi muốn nói là việc viết văn có thể nói lên hiện thực. Tận cùng công việc viết của tôi luôn để nói lên một hiện thực nào đó, hiện thực của người phụ nữ, hiện thực của xã hội ..không phải tôi có thể làm ngay một lúc.. đó là cả một quá trình đấy.

– Bà có nói về tầm quan trọng những cuốn sách của Pierre Bourdieu đối với với bà, bà cũng từng viết về nỗi xấu hổ mang tính xã hội, sự hạn chế, cảm giác không bao giờ được ở vào vị trí của người này người kia..và khi ta thay đổi vị trí xã hội .. Liệu nó có dịu đi chút nào đó hay vẫn còn là, tôi không nói nó như một ngọn lửa luôn cháy, nhưng có thể như cái gì đó nhói trong lòng ?

Annie: Tôi không muốn nói về thời thơ ấu nhất là thời niên thiếu dù nó luôn ở trong tôi cảm xúc không thuộc về một giới nào đó… Người ta nên nhìn về quá khứ để biết ta đến từ đâu và tập trung vào cái  ta còn thiếu ..
– Bà nghĩ đến cha mẹ khi biết tin mình đoạt giải Nobel ?
Annie: Vâng, tôi nghĩ đến cha mẹ, gia đình.. đến điều mà tôi có thể làm cuộc sống của mình tốt hơn.. Tôi không viết để mong được Nobel, tôi viết để tìm điều gì đó đúng.. tôi đã trải qua nhiều điều .. tận cùng của những thứ tôi viết ra nhờ những gì tôi thấy, tôi được trải nghiệm ..
– Về việc viết văn, tôi có cảm giác là đối với bà những gì không trải nghiệm thì không viết.. hay nói một cách khác chỉ viết những gì bà trải nghiệm ?
Annie:  Không, mọi thứ không phải lúc nào cũng toạc ra hết.. Có những người đã có những mối tình vĩ đại.. nhưng có bao nhiêu người viết ra khi họ được sống những mối tình đó ? Cảm giác mọi thứ trôi qua rất nhanh.. Đối với tôi một ngày mà không viết thì tôi cảm thấy nó như một ngày bị mất mát vậy.
– Một ngày của bà diễn ra như thế nào? Bà có viết liên tục không ?
Annie: Ồ không, không, tôi không thể viết liên tục như vậy. Luôn có những thứ ngăn cản.. những cám dỗ, tình trạng sức khoẻ.. nói chung không phải lúc nào cũng có thể viết đâu.
– Bà thấy đó, bây giờ đã có một cộng đồng đang phát sốt tìm đọc bà, đồng hành cùng bà, yêu qúy bà .. thậm chí cả thế hệ trẻ trong số đó.. Bà nghĩ gì về những độc giả của mình, nó gợi lên trong bà điều gì ?
Annie: Tất nhiên tôi rất hạnh phúc, thậm chí là không thể tin được điều đó. Có một khoảng cách trong việc viết ra các từ ngữ và hình ảnh trong đầu, một công việc khó giải thích, một công việc cô đơn… Sau cùng thì tôi được nuôi dưỡng bởi văn học. Tôi có cảm giác đang tham dự vào hệ của những người viết và truyền tải thông điệp ..  
– Điều gì gợi lên trong bà giữa những cuốn sách của mình và thế hệ trẻ hiện nay. Có điều gì đó vô hình tạo nên một liên kết mạnh mẽ giữa các cuốn sách và độc giả của bà.
Annie: Tôi không thể giải thích được tất cả. Có thể tôi có những trải nghiệm sống nào đó chẳng hạn như tôi đã không được nuôi dạy một cách truyền thống. Cha tôi rất hiền và hay nấu nướng, mẹ tôi thì tính cách khá mạnh và tôi nghĩ tôi ảnh hưởng nhiều từ bà, từ những suy nghĩ cách tân của bà..
– Có thể là một sự nổi loạn đâu đó ?
Annie: Vâng, hẳn là vậy.  Một sự nổi loạn đâu đó trong những gì tôi viết .. 
– Annie, bà nghĩ gì về hình ảnh một phụ nữ trẻ vứt bỏ các định kiến, xén tóc, xuống đường biểu tình, đối diện với các rủi ro chết người để đòi sự tự do ?  
Annie: Đó hẳn là một con người rất dũng cảm. Vấn đề là người ta tự hỏi có thể làm gì. Nhưng các chính phủ và các nước làm gì khi thấy những điều đang diễn ra, có thể nói nó là một tội ác chống lại nữ giới. Chúng ta phẫn nộ khi nói đến những gì xảy ra ở Ukraina.. nhưng tôi không thấy nhiều người nói đến vấn đề của nữ giới … Thật khủng khiếp !

– Bà khuyên gì các độc giả trẻ, những người còn chưa đọc bà, nên bắt đầu bằng cuốn sách nào ?
Annie: Còn tùy thuộc đó là ai (cười). Nó phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố tính cách của người đọc. Vâng có thể là cuốn « La Place » hoặc l’Evénement » (Sự kiện) hay là ‘Les années » (Những năm tháng)..
– Bây giờ bà đã thuộc vào cộng đồng những người Pháp đoạt giải Nobel. Trong số họ, bà cảm thấy gần gũi với ai ?
Annie: Có thể tôi cảm thấy gần với Camus, có thể vì cuốn Premier Homme của ông ấy. Nhưng không chỉ có vậy.. Nếu tôi nói với anh rằng một lời nói của ông ấy đã ghi khắc trong tôi lúc ông ấy phát biểu khi nhận giải Nobel, một cách rất khiêm tốn.. tôi không nhớ chính xác nhưng ý ông ấy nói ông sẽ trở lại nếu ông còn thời gian để viết .. Tôi nghĩ rằng lúc đó ông ấy đã viết cuốn Premier Homme rồi.
– Bà đã có diễn văn trong đầu để chuẩn bị nhận giải chưa ?
Annie: Ồ không, tôi chưa biết nói gì. Nhưng có lẽ đó sẽ là một phát biểu mang tính cam kết.

nguồn: France Inter 7/10/22

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly

Mùa hè năm nào, hầu như mỗi thành phố ở Bỉ đều có lễ hội. Độ lớn nhỏ tùy từng nơi, tùy cả lịch sử và văn hóa của vùng đó. 

Nhìn chung bên cạnh những hoạt động truyền thống như rước kiệu, đạp xe, âm nhạc… thì lễ hội nào cũng có những trò chơi dành cho trẻ con và cả người lớn. Từ những trò chơi phổ biến như đu quay, câu vịt, thả xu, bắn súng, ném bóng, lăng vòng.. đến những trò chơi cảm giác mạnh như bodyshake, lướt xe ngược, con lắc hay trò vượt chướng ngại vật … 

Một hoạt động nữa khá phổ biến ở các lễ hội là khu chợ trời nơi mọi người bày bán những đồ mình không cần tới nữa, cả cũ và mới.. 

Không khí lễ hội đặc biệt sôi động hơn nếu trời nắng đẹp. Đây là dịp mọi người ăn mặc long lanh và dắt chó đi dạo, hưởng nắng, nhìn ngắm thiên hạ và biết đâu gặp được một món đồ mình cần với giá cực kỳ rẻ.. hay cũng có thể tình cờ gặp một mối nhân duyên Trời giáng không chừng 🤣

Các gian hàng bán đủ thứ từ video, sách cũ, đĩa nhạc, bàn ghế, tranh tượng, đèn treo, … cho tới quần áo, giày dép, nồi chảo, đồ gốm, các vật dụng gia đình, đồ chơi trẻ em.. và cây cối. 

Ở những khu chợ như thế này, việc mua bán cũng giống như tình yêu, tức cũng phải tùy duyên nợ và tùy cả tính người nữa. Có những món đồ người ta mua rất nhanh. Nếu đồ cồng kềnh không tiện xách đi thì họ thường trả tiền trước xong gửi đó rồi đi dạo một lúc sau quay lại lấy. Có những thứ thì người ta do dự mãi nhưng nửa tiếng sau quay lại đã không còn. Có những người cò kè từng 50 cent như sắp thành triệu phú. 

Năm nay có một cô bạn bán rommelmarkt tôi tới chơi và đứng ngắm mọi người qua lại, ngắm cả nhân duyên của từng món đồ. Có cô bé khoảng 5 tuổi tóm lấy một quả bóng xù ôm ghì vào người như không muốn rời. Xong lúc mẹ nó hỏi con có muốn không thì con bé lại thả xuống và nói không ạ. Chúa mới biết vì sao 🤣 Có những món đồ rất nhiều người chạm vào, cầm lên xem rồi lại để xuống. Cuối ngày chủ nhân lại xếp lại vào thùng cho đợt bán sau. Ngày ra đi của nó chưa đến. Vạn sự đều tùy nhân duyên cả. Người cũng vậy mà đồ vật cũng thế. Không phải cứ tống đi là xong.

Nhiều gian hàng có cả một thùng để đồ gratis (miễn phí) cho những ai thích cứ việc ghé lấy. Cảm ơn cũng tốt mà quên cảm ơn cũng không sao. Có cả những người chuyên săn những đồ gratis như vậy. Một bà có một xe đẩy khá pro đi thu lượm những đồ gratis để cho đám trẻ nghèo ở khu nào đó, hoặc bán lại… Nói chung cuộc sống mà, muôn hình vạn trạng, gì cũng có .. 

Cùng với âm nhạc, chủ yếu là nhạc retro kèm một số ca khúc nhạc dance được phần lớn ưa chuộng, không khí lễ hội rộn ràng cả sắc màu quần áo .. ko khác gì một lễ hội thời trang mini.. ngày thường mấy ai mặc vậy 🥳 Một bà chạc 60 mặc váy trắng như nữ thần ngồi trên một chiếc xe lăn..  Sao lại không nhỉ ! Đời là mấy tí ! Những phụ nữ trẻ diện váy đỏ váy hồng rực rỡ.. đeo kính thời trang sành điệu như trong phim. Này là một cô xúng xính trong bộ đồ nhân vật X như cô đã chờ dịp này khá lâu rồi. Kia là một anh hóa trang son phấn lòe loẹt, mặc váy trắng cô dâu và đẩy một chiếc xe ba gác.. Thì cuộc sống có khác gì một vở kịch đâu ? Mỗi người đều phải đóng tốt vai của mình. Và đều có quyền thể hiện mơ ước khi thời tiết cho phép 😅

Trời nắng đẹp, gió nhẹ.  Các cặp già trẻ nắm tay nhau tung tăng đi lòng vòng.. Nói chung là cứ phải đi loanh quanh cho đời đỡ mỏi 🤣 Có một xe bán kem trẻ con bu rất đông. Một cậu bé chạc 4 tuổi hỏi: 

– Cháu muốn mua kem sô cô la ạ.

Anh bán kem nói: sô cô la hết rồi cháu ăn kem khác được ko ? và chỉ vào cái bảng giá. Cậu bé nói:

– nhưng cháu chưa biết đọc ạ.

Anh bán kem cười lớn rồi đọc tên từng loại kem.

Cuộc sống đầy những phút dễ thương như vậy.

Có cặp vợ chồng cùng nhau đi bán đồ ở rommelmarkt. Chị vợ dán nhãn Gratis (free) vào áo chồng, rồi đeo kính mát ngồi vắt chân lên ghế…chớ kết quả mãi chưa thấy động tĩnh gì. Tham vừa thôi chứ, ngày nắng đẹp đã được phơi nắng free còn đòi hỏi nhiều thế  🤣🤣🤣

Một người đàn ông đứng nhìn chiếc xe đạp cũ rất lâu. Ông nhìn ngang nhìn dọc xoay tới xoay lui chiếc xe cũ một hồi, ngắm còn kỹ hơn ngắm gái 🤣. Xong nói chuyện với người bán và đồng ý mua với giá 20 €. Ông vỗ vỗ lên chiếc xe và nói trước khi dắt nó đi:  « tôi sẽ cho nó một cuộc sống mới  » 🥰

Không thấy ông đeo nhẫn trên tay nên tôi cũng đoán mò và mạnh dạn chúc mừng chiếc xe – người vợ mới của ông hạnh phúc. 🥳🥳🥳

TÌNH YÊU SẼ TRỞ LẠI THEO MỘT CÁCH KHÁC !
Khi đã 40 tuổi, nhà văn Franz Kafka (1883 – 1924) vẫn chưa kết hôn hay con cái gì, ông đang tản bộ trong công viên ở Berlin thì thấy một bé gái đang khóc vì lỡ đánh mất con búp bê yêu dấu. Kafka cùng cô bé tìm con búp bê nhưng không thấy đâu cả. Kafka đành hẹn cô bé gặp nhau ở chỗ cũ vào ngày mai để tìm kiếm thêm.Ngày hôm sau, tìm mãi mà chẳng được, Kafka nghĩ ra cách đưa cô bé một lá thư « được viết » bởi con búp bê với nội dung « Xin chị đừng đau buồn, em đang chu du đi khắp thế giới chị ạ. Em sẽ viết thư gửi chị kể về hành trình phiêu lưu của em nhé. »Vậy là những câu chuyện phiêu lưu được kể qua thư cứ tiếp nối nhau mãi, cho đến khi Kafka sắp qua đời.Trong tất cả những lần gặp gỡ, Kafka đều lấy ra một lá thư mới, đọc cho cô bé nghe về những chuyến phiêu lưu kì thú của con búp bê và khiến cô bé thấy rất vui vẻ.Cuối cùng, khi bệnh lao phổi trở nặng, Kafka mua tặng cô bé một con búp bê mới và nói rằng nó đã trở về nhà sau hành trình quanh thế giới. »Sao nó chẳng giống con búp bê của cháu tí nào cả, » cô bé thắc mắc.Sau lưng con búp bê được đính kèm một lá thư, trong đó viết: « Những chuyến phiêu lưu đã thay đổi em chị ạ. » Cô bé liền vui sướng ôm chầm lấy con búp bê và hạnh phúc trở về nhà.Một năm sau, Kafka qua đời.Nhiều năm sau, cô gái nhỏ giờ đã lớn, trong lúc dọn dẹp đống đồ chơi, cô tìm thấy một bức thư nhỏ xíu ký tên Kafka ở bên trong con búp bê. Trong đó viết: »Những thứ cháu yêu quý có thể sẽ mất đi, nhưng sau cùng thì, tình yêu sẽ trở lại với cháu theo một cách khác. »
ST.

Những mảnh ghép

Đó là một cặp tỏ ra bình thường như bao cặp khác. Ông chạc 70, bà khỏang hơn 50. Ông người tầm thước, tóc hoa tiêu, vẫn lưu dáng dấp quí tộc cổ điển Anh. Ông từng sống và kinh doanh ở Anh mấy chục năm. Bà béo tròn phốp pháp, vẻ mặt và nụ cười hồn hậu, đôi lúc hơi pha nét trẻ con .
Cả hai đều từng đổ vỡ trước khi đến với nhau. Họ không có con. Và cũng không có chó. Niềm vui duy nhất có lẽ là sự ấm lòng khi nhìn thấy bóng nhau mỗi ngày. Tuy nhiên, cuộc sống thì không đơn giản …
Đôi lúc ông sang ngồi uống trà và buồn buồn thông báo hôm nay vừa cãi nhau với bà. Tôi bảo mọi việc rồi sẽ ổn thôi, ông bảo: thế à ?! Có hôm bà chạy sang hớt hải kể một mạch chuyện xích mích với ông. Ông kể thì thường đơn giản một câu thông báo cụ thể và không thể ngắn hơn: tôi cãi nhau với bà ấy.
Bà kể thường rối rắm chuyện nọ sang chuyện kia khiến người nghe có cảm giác vấn đề chính không phải là cuộc cãi cọ với ông sáng nay mà do những tích tụ từ mấy tỉ năm trứoc. Chỉ có một lần duy nhất bà kể rành mạch nhưng với giọng trầm buồn trong nước mắt rằng ông ký di chúc ở văn phòng lục sự, quyết định để lại 70% tài sản cho Sans Frontieres, là tổ chức các bác sĩ không biên giới, chuyên làm từ thiện, cứu giúp các bệnh nhân nghèo. Bà bảo bà thấy bị tổn thương vì sau bao năm sống với ông, bà cảm giác bị coi như một vật phụ. Bà nói Sans Frontieres đã nhiều tiền rồi, cả thế giới gửi vào đấy, trong khi bà tuổi già chỉ trông vào chút trợ cấp. Nếu ông không còn nữa là bà chỉ thui thủi một mình chứ tuổi này rồi còn tìm được ai nữa, đã thế bà còn béo ú , nên bà cũng cần chút an tòan về tài chính phòng khi ốm đau. Nhưng ông lại có vẻ không nghĩ vậy , làm bà thấy đau lòng. Bà nói bà sẽ chia tay, để ông tự do hơn trong việc quyết định … Vì không kết hôn nên bà cũng không có quyền gì nhiều. Bà bảo vấn đề không phải tiền đâu, nhưng cách ông nghĩ vậy làm bà tổn thương… Bà không muốn buồn khổ nữa. Giờ bà chỉ muốn sống yên thân…
Mấy hôm sau mỗi người đều tới uống trà, nhưng đi một mình. Họ tránh mặt nhau. Bà rời đi mới thấy ông tới. Bà vẫn nói chuyện vu vơ. Ông vẫn im lặng trầm tư. Tôi nghĩ : thôi thế là lại xong một cuộc tình . Nhưng không, Chúa có thật đấy nhé ! Nhưng tất nhiên, Chúa cũng chỉ giúp được những người còn duyên nợ với nhau .. 🙂
Ba hôm sau, thấy hai ông bà khóac tay nhau cùng tới uống trà . Vừa uống vừa nhìn vào mắt nhau cứ như thần Cupid ngủ mê ú ớ bỗng giương tên bắn cái bụp. Tôi cũng mừng thầm cho ông bà. Có lẽ như thế tốt hơn là mỗi người một nhà, tối tối ôm cái tivi thủ thỉ .
Một tháng sau, bà lại chạy sang mách hôm qua ông đi uống rượu lúc 3g sáng, xong không nhớ địa chỉ về nhà, khiến police phải dựng bà dậy lúc 4g sáng để đưa ông về…làm bà rất bực vì hôm đó bà đã đang bị cảm cúm… cả ngày lại phải chăm sóc và nhắc ông uống đủ lọai thuốc bác sĩ kê đơn… , bà cũng chả phải 20 gì, cũng cần ngủ đủ giấc mới có sức… Bà kể lúc nào cũng trọn gói, tức là bà kể một hơi tất tật những gì khiến bà búc xúc. Kể xong, nét mặt bà giãn ra, vấn đề 5 phút trước còn to tướng, giờ như đã bay biến.
Ông thì những lúc buồn chỉ tới uống trà một mình, xong lặng lẽ đứng dậy và rời đi . Không nói gì.
Bà ưa nói, bà có nhu cầu thổ lộ tâm tư. Nếu không, có lẽ bà cảm thấy bứt rứt trong người. Ông hòan tòan ngược lại. Có lẽ vì ông ít nói quá nên nhu cầu đối thọai của bà tăng tới mức trở thành độc thọai. Bà nói bất kể có ai nghe không, bất kể điều đó có khiến ai thấy phiền không..
Bà kể đủ thứ chuyện.. Có lần ông mới đi viện về đuợc tuần, bà thao thao giữa quán rằng đêm qua ông nôn ra sao, rồi bà phải thay bỉm cho ông ra sao, khiến mọi người đều đưa mắt nhìn nhau . Bà nói như một cái máy không có chức năng kiểm duyệt phanh phiếc gì, mọi thứ cứ thế trôi ra không cách gì ngăn được. Tới mức nếu không nói , các mạch máu quanh miệng bà có thể ngừng lưu thông. Một lần, bà bị viêm họng khá nặng, gần như mất tiếng, giọng bà khào khào phải căng tai may ra mới hiểu. Tôi đã mừng thầm hôm nay bà sẽ nghỉ ngơi một chút. Nhưng không, họng hiếc không ảnh hưởng tí zì tới việc “vận hành thông tin” của bà. Dù nói đứt quãng không ra hơi, bà vẫn quyết không giảm thời lượng, volume cũng như tốc độ của các câu chuyện mà bà cho là hấp dẫn 🙂 khiến tôi dù chỉ căng mỗi tai để nghe mà lại có cảm giác đau cả họng luôn 🙂
Những năm trước, lúc còn khỏe, mỗi khi thấy bà nói chuyện linh tinh, ông thường gắt: bà thôi đi ! Có hôm lời qua tiếng lại hai nguời to tiếng ngay trước mặt mọi người. Rồi ông bỏ đi, bà ngồi đó lẩm bẩm lầm bầm …Xong đứng dậy bảo: thôi tôi về xem ông ấy thế nào .
Nhưng từ hồi đi viện về, thấy ông lặng lẽ hơn, có vẻ mệt mỏi hơn. Những lúc không hài lòng với những câu chuyện quá đà của bà, ông thường quay sang nhìn bà chằm chằm, không nói một câu nào. Những lúc ấy, đôi mắt ông phủ một gam màu u uất như không có lọai thuốc tẩy nào xóa nổi. Lắm khi cái nhìn của ông nặng tới mức như sắp có chiến tranh. Bà thì những lúc đó chỉ liếc sang nhìn ông một giây rồi tiếp tục tươi cười quay lại câu chuyện của mình như chả có gì xảy ra . Bà quen với chuyện đó . Ông chỉ nhìn vậy thôi, và sẽ chả có gì xảy ra. Và ông cũng quen với chuyện đó. Trời còn không thay đổi được bà, ông thì là cái thá gì ! Nói xong 5 phút chắc bà cũng quên đã nói gì .
Tôi chỉ lặng lẽ quan sát họ. Không dám nói một lời . Mà cũng chả biết nói gì. Bao năm sống đất người, tôi học được cách thận trọng. Với văn hóa ở đây, bất kỳ một lời khuyên nào cũng có thể hoặc bị cho là can thiệp vào đời tư họ. Hoặc chỉ làm mọi việc tệ thêm.
Cứ thế, họ song hành cùng nhau. Vừa song song bên nhau, vừa yêu thương và hành hạ nhau. Bà hành ông với những câu chuyện không đầu cuối bất tận. Ông hành bà với sự im lặng có nguy cơ cũng bất tận.
Có lẽ ông không biết phải nói gì nữa. Cũng có lẽ ông đã nhận ra bà không ý thức được những gì bà nói, việc đối thọai với vô minh hay vô thức quả là rất nhọc … Hoặc ông nghĩ có lẽ im lặng tốt hơn là làm mọi việc rối thêm. Nhưng với bà nó lại là một sự nặng nề khó chịu. Có thể bà xem đó như một sự coi thường, sự khinh miệt, và bà ngấm ngầm chống đối theo cách của bà . Ông thì đã vào giai đọan chấp nhận, cũng có thể ông thấy mệt mỏi quá ..
Cuối tuần rồi, họ lại cùng nhau tới uống trà , bà vẫn tiếp tục kể các lọai chuyện, kiên quyết bám chắc công thức “nói dài, nói dai, nói dại” … Thi thỏang bà cũng dừng lại, không quên hỏi ông ăn uống có ngon không, lấy thêm cái này cái nọ dùm ông. Một lúc, ông đứng dậy và nói ông muốn về nhà. Bà làu bàu: tôi còn chưa uống xong mà. Ông chả có kiên nhẫn gì cả. Nhưng lúc đứng dậy ra lấy áo khóac, bà vẫn giúp ông mặc áo và cài từng chiếc cúc cẩn thận. Vì ông không gập đựoc lưng xuống. Rồi bà phẩy cái lá dính trên áo ông, đội mũ giúp ông, chỉnh mũ cho ngay ngắn. Ông nhìn xuống bà với ánh mắt trìu mến, khác hẳn mấy phút trước.
Rồi họ dắt tay nhau rời đi. Tôi nhìn hút theo bóng họ. Bóng ông nặng chịch và chậm chạp từng bước. Bóng bà lật đật bươn bả bước theo. Cứ thế họ dìu nhau đi trong nhập nhọang của một buổi chiều muộn, dưới mưa tuyết lất phất lạnh lẽo trên con phố nhỏ . Họ dìu nhau như thế đã 15 năm…
Tôi chợt giật mình nhớ tới một câu chuyện nghe lãng nhách mà cô bạn mới kể mấy hôm trước. Rằng có hai anh chị kia đẹp đôi lắm, yêu nhau thắm thiết lắm, lãng mạn lắm. Được mấy tháng, họ chia tay và mỗi người đi tiếp con đừong của họ với một người khác.
La La Land là một phim thể lọai nhạc kịch lãng mạn pha bi hài. Phim vừa ẵm hàng chục giải thưởng danh giá tại các liên hoan phim Venice, Toronto, Quả cầu vàng, Bafta.. và hơn chục đề cử Oscar đang chờ kết quả trong mươi hôm nữa. Ờ…
(15/3/2017)

Cuối tuần ở Limburg

Một ngày tháng 5 đẹp trời , cả nhà lại xếp vali kéo nhau lên đuờng tới Limburg. Mùa xuân năm nào chúng tôi cũng hẹn nhóm bạn ở đây. 12 ng lớn và 6 trẻ con. Tất cả thuê 2 căn hộ liền kề trong khuôn viên một trang trại rất rộng. Có 8 phòng ngủ, 2 nhà tắm, 4 wc, 2 bếp đầy đủ trang thiết bị, 2 phòng ăn, 2 living có TV. Phía trước có sân chơi cho trẻ con đủ cả bãi cát, trampoline, xích đu, cầu trượt, xe đạp… Bên trái là một cái hồ nhỏ có thả vịt . Chiều tối còn có hẳn tiếng ếch kêu râm ran. Khung cảnh làng quê rất thanh bình.

Chương trình năm nào cũng là 2 ngày đi dã ngọai, sáng thứ bảy ăn sáng xong sẽ bắt đầu hành trình đi bộ trong thiên nhiên. Mọi người đều chuẩn bị nước uống, bánh mì kẹp và trái cây mang theo để ăn trưa. Chiều khoảng 5-6 g về mọi người cùng nhau nấu nướng và dùng bữa tối vui vẻ. Thực đơn thì đã thống nhất từ trước. Sáng chủ nhật đi thêm một chặng ngắn chừng 5km, tới 12g30 thì tập kết ăn uống tại một nhà hàng trong vùng trước khi chia tay. 2 bữa điểm tâm mọi người phân chia nhau, người mang bánh mì, ngũ cốc, người mang bơ sữa mứt, người mang trà, cà phê…
Limburg là một vùng rất xanh . Những nơi tôi đi qua đều phủ một màu xanh mướt của cây cỏ. Chúng tôi lái xe tới một bãi đậu và bắt đầu cuộc dã ngọai. Trong đòan có « thổ dân » Limburg rất rành đuờng tình nguyện làm hướng dẫn.. Cứ đi khỏang 3-4km chúng tôi dừng chân nghỉ một chút, uống nước, ăn vặt (ai hút thuốc thì hút) rồi lại đi tiếp.

Chúng tôi đi miên man qua những con đường nhỏ rợp màu xanh, hai bên là những ruộng ngô, ruộng nho, vườn táo, vườn lê, những ngôi nhà nhỏ xinh xắn, những trang trại gia đình nuôi gà nuôi vịt, trồng rau.. Những thảm cỏ xanh bát ngát thi thỏang nhô lên tháp chuông một nhà thờ hay nhà nguyện nào đó. Limburg là vùng nửa Công giáo nửa Tin lành. Đời sống vẫn nhiều dáng dấp làng xã. Không hiểu sao tôi chợt nhớ tới một câu thơ của Đồng Đức Bốn: “Đất nâu tưởng đã cũ càng . Tiếng chim trong bụi tre làng cứ non..”
Trên đường cũng rất nhiều nhóm đi dã ngọai. Chúng tôi chào nhau khi đi ngang qua. Đây là khu vực giáp biên giới với Hà Lan. Chúng tôi đi qua một cột mốc biên giới. Chỉ là một cái cọc đơn giản trên đó có đánh dấu : đi sang trái là thuộc Bỉ, đi sang phải là thuộc địa phận Hà Lan. Tôi bỗng hình dung ở cái làng nhỏ nơi địa giới mong manh này, bên Bỉ có thể với tay sang Hà Lan, có hai anh chị kia để ý nhau kiểu « cửa sổ hai nhà ở cuối phố, chả hiểu sao không khép bao giờ ». Ở đây, ngừoi này có thể nhờ người kia “mày sang Hà Lan mua cho tao mấy cái kem”. Từ Hà Lan sang Bỉ cũng chả khác gì ra quán nước đầu ngõ. Mà nói chung, đã iu rồi thì cột biên giới có to hơn hay xa nữa thì cũng nhằm nhò zì 😅

cột mốc biên giới Bỉ – Hà Lan

Thi thỏang, một vài nhóm đi bộ trải khăn xuống thảm cỏ và ăn trưa dưới bóng cây . Quang cảnh trông cũng hao hao nhiều bức tranh của Manet, nhưng tất nhiên ở đây không có khỏa thân 😎

Có tiếng gà gáy trưa. Tôi vụt nhớ về nhiều năm trước …về những làng quê Việt nam tôi từng đi qua. Cũng một màu xanh mướt. Cũng có tiếng gà gáy, cũng có cây cổ thụ … Và cả mùi ổi mùi nhài thơm ngát sau những lũy tre xinh đẹp… Người nông dân thì ở đâu cũng vất vả, nhưng là những cái vất vả cực kỳ khác nhau…

Limburg vẫn còn chừng hơn trăm các trang trại lớn nhỏ. Nhiều trang trại ở đây vẫn giữ nguyên mô hình như cả mấy trăm năm trước. Đi ngang một trang trại nhỏ, thấy có một chiếc cầu thang cũ nối với gác xép, tôi tò mò xin trèo lên xem. Phía trên là gác gỗ chất đầy rơm rạ và đồ cũ . Thiếu ánh sáng và thừa mạng nhện. Chợt nhớ đến một cảnh trong phim Đồi gió hú , tôi vội vàng leo xuống 😀

cầu thang cổ nối lên gác xép một trang trại nhỏ
Bà chủ trại này là một phụ nữ đậm người, đi đứng khùynh khòang, tính cách khá mạnh mẽ. Mà cũng phải mạnh mẽ thôi khi bà một mình quản lý tất tật từ A tới Z. Bạn thì bà không thiếu nhưng người yêu thì bà không có, mà bà chắc cũng chả thiết. Bà là bà chả thay đổi vì đứa nào sất. Bà cứ thế thôi, cứ nói choang choang và cứ phảng phất mùi bò đấy . Không yêu iếc zì cũng ổn mà, thôi cứ để bà yên ! Làm phiền bà là bà nhốt lên gác xép 😉

trong sân một trang trại nhỏ với kiểu cửa từ thời Trung cổ

một ngôi nhà cổ ở Limburg

Limburg là một vùng nhiều dấu ấn lịch sử. Chúng tôi đi qua một cây cầu . Đây là cầu Vroenhoven nổi tiếng, bắc ngang con sông nối từ Liège tới cảng Antwerp. Chính tại nơi đây, chiến tranh thế giới thứ hai đã bắt đầu ở Bỉ. Cây cầu nối với hai boong-ke bỏ hoang từ sau chiến tranh. 7 mươi 7 năm trước, mọi thứ ở đây xáo trộn với những xe tăng súng ống, bom đạn … Còn bây giờ nó thanh bình biết bao với dòng sông êm ả trôi giữa hai hàng cây xanh rì . Vâng, 77 năm trứoc, quân đội Bỉ đã đầu hàng quân Đức trên chiếc cầu này sau nhiều ngày cầm cự.

Máu đã chảy xuống đây. Thịt đã rơi xuống đây. Dòng sông đã chứng kiến nhiều sự kiện xuyên thời gian. Nó thấy hết, và nó lặng lẽ trôi. Trôi ra biển cả bao la. 77 năm trước, dòng sông có khác không ?

cầu Vroenhoven 77 năm trước…

và bây giờ

Cây cầu ngày xưa thì khác. Giờ nó được xây lại hiện đại hơn, vững chắc hơn. Trên thành cầu, một hàng chữ bằng 4 thứ tiếng vừa nhắc nhở nỗi đau chiến tranh, vừa phòng ngừa những người muốn tự tử . Bên dưới cầu là khu bảo tàng, nơi lưu giữ những di tích của một vùng từng là chiến sự nóng , cũng là nơi tưởng niệm 1740 người đã ngã xuống ..

bên trong bảo tàng dưới chân cầu Vroenhoven

Cách đó không xa là đài tưởng niệm các nạn nhân chiến tranh và Ngọn lửa mang tên Hòa bình thế giới.

Ngọn lửa Hòa bình thế giới

Chiều tối chúng tôi trở về trang trại. Trong nhóm có một đầu bếp gốc Limburg nên hàng năm anh thường nấu cho cả nhóm ăn. Trong lúc chờ bữa tối, ai thích đi thăm chuồng trại hoặc dạo quanh hồ thì đi. Vài người vác ghế ra vườn ngồi hóng gió và buôn chuyện. Thì chuyện xã hội, chính trị, và tất nhiên cả tình êu 😉 Trẻ con chơi xích đu, nghịch cát hoặc nhảy trampoline. Một lúc thì các mẹ gọi vào tắm rửa sạch sẽ để chuẩn bị ăn bữa tối. Các bà khác rảnh rang thì bắt đầu chia nhau dọn bàn ăn khi mùi thức ăn thơm nức tỏa khắp nơi. Ăn tối xong, mọi nguời pha trà, cà phê và mang bánh ngọt ra, ngồi buôn tiếp cho tới tận gần 11h. Trẻ con thì xem phim tới 9h30-10h rồi cũng đi ngủ .

hồ nước cạnh trang trại

Ngủ ở trang trại khá đặc biệt . Nếu đóng cửa sổ thì hơi bí, nhưng nếu mở cửa sổ thì 3,4 g sáng gà sẽ gáy , bò bê sẽ ầm ì đòi ăn.. . Chó sẽ sủa inh ỏi .. . Tôi tỉnh một lúc rồi lại từ từ ngủ tiếp khi những âm thanh của trang trại lắng xuống , cho tới 7-8 giờ khi nắng sớm vờn trên rèm cửa và tiếng trẻ con bắt đầu chơi đùa dưới sân . Thức dậy ở trang trại là một trải nghiệm khá thú vị . Không hẳn vì có tiếng bò bê hay gà gáy mà nơi đô thị thiếu vắng, mà nó có tiếng chim hót líu lo trong không khí ban mai hơi se lạnh phảng phất mùi chuồng trại. Và khi ta nhìn qua những chiếc cửa sổ bé xíu kiểu thời Trung cổ, cảm giác thời gian thật diệu kỳ…

Ở trang trại này chỉ nuôi bò thịt, không nuôi bò sữa . Bà chủ trại nói giờ luật mới, không cho phép các trang trại làm nhiều thứ như trước, mà họ đưa vào chuyên nghiệp hóa. Trang trại nào đăng ký nuôi bò thịt thì chỉ được nuôi bò thịt thôi, không được nuôi bò sữa, không được nuôi các lọai gia súc khác như heo, cừu, gà vịt, và cũng không được trồng cây trồng rau màu…
Bởi vậy, thế hệ con cái bà không muốn tiếp quản công việc của bố mẹ nữa. Họ học các ngành khác như bác sĩ, ngân hàng, luật sư… Còn trang trại cũng phát triển dần sang mô hình làm nhà nghỉ cho thuê, phòng một mai không nuôi bò bê được nữa thì cũng không lo đói.
Vùng này vẫn giữ phong cách làng xã. Gần như cả làng biết nhau. Đời sống ở đây khá từ tốn.

Cuối ngày, các em nhỏ được ngồi trên xe công nông do chính chủ trại lái đi một vòng quanh trang trại. Với chuyến dã ngọai cuối tuần ở Limburg, các em được hưởng không khí làng quê, gần gũi hơn với thiên nhiên, có những trải ngiệm đa dạng.

Limburg – một vùng đất đầy sức sống, vừa ấp ủ truyền thống, vừa hé mở hợp lý với hiện đại, hướng tới tương lai mà không mất đi nét duyên quê dung dị . Tình cờ, tôi đọc được mẩu tin tại Hội Nghị tòan cầu về du lịch 2016, Limburg được chọn trao giải thưởng Du lịch cho tuơng lai – giải quốc tế cao nhất về du lịch, cho một vùng đất những năm trước đó còn bị đánh giá là cằn cỗi. Nhưng chính với cái vẻ quê quê được khai thác và phát triển đúng hướng ấy, Limburg đã thành công trong lĩnh vực du lịch.

Chiều chủ nhật, thu xếp đồ trở về nhà, đứng trên con đường nhỏ nhìn ra mặt hồ nơi những con vịt xinh xinh đang thong thả bơi, tôi chợt nhớ tới một câu vè hồi bé bọn trẻ con chúng tôi hay hát :

Nhà Tí nhỏ bé,
Ở mé bờ đê
Có bò có bê
Có hồ thả cá.
Gà cồ to quá,
Gà ri bé tị,
Có na có thị
Có cả bí ngô .

(31/5/2017)