Người Canh Gác

Phần 3: Những cuốn sách ma

Họ vừa băng qua đường thì một giọng nói khàn khàn chợt vang lên:
– Này em! Em là cháu trai của ông Joseph phải không?
Joris quay lại, cảm giác như có gai đâm vào lưng. Đó chính là người phụ nữ trẻ đã nhìn nó chằm chằm mấy phút trước đó. Cô ta vừa băng qua đường để tới chỗ họ.
– Phải em không? – Cô ta nhắc lại, môi hơi chu lên. – Ta mới đọc một cuốn sách, em biết cuốn sách nói gì không ?
Joris không thể ngăn được những lời buột ra từ miệng mình:
– Rằng những cuốn sách là những ngục tù… – Nó lẩm bẩm.
– Rằng những cuốn sách là những ngục tù! – Người phụ nữ lặp lại đồng thời cùng nó.
Giọng nói của cả hai chồng lên nhau. Hai tông điệu đối lập va vào nhau, như dàn hợp xướng của một đám tang. Joris cảm thấy một cơn rùng mình chạy dọc khắp cơ thể. Đó chính là câu nói trong cơn ác mộng của nó. Họ vừa đồng thanh nhắc lại câu nói trong cơn ác mộng của nó!
– Nhưng cánh cửa của những cuốn sách sẽ mở ra! – Người phụ nữ vừa nói vừa tiếp tục bước tới. – Trừ khi Joseph hành động kịp thời. Em phải báo cho ông nội em biết, Joris, không còn nhiều thời gian nữa đâu!
Nó bàng hoàng thấy cô ta cúi xuống ghé vào tai nó thì thầm những lời về ông nội, về cha nó và nhiều điều khác. Cô ta càng nói thì nó càng nhận thức được nội dung và ý nghĩa của từng câu. Một làn sóng hoảng sợ xâm chiếm nó: không thể nào, cô ta điên rồi, những gì cô ta nói với nó không thể là sự thật!

Người Canh Gác – Tập 8 (e-book)

đọc Tập 8 – Người Canh Gác (e-book) Tác giả: Christos (Pháp) Dịch giả: Vân Lê

3,60 €

Bi kịch Medusa

Medusa, quỷ nữ tóc rắn của thần thoại Hy Lạp.

Có nhiều tích kể về việc Medusa bị biến thành quái vật. Nhưng thích nhất là tích kể Medusa lúc đầu sinh ra là cô gái rất xinh đẹp, nhưng do cậy nhan sắc (kiểu ta đẹp ta có quyền) đã khiêu khích nữ thần Athena nên bị thần trừng phạt bằng cách biến tóc thành rắn và đôi mắt hóa đá bất kỳ ai nhìn vào nó. Khiến mọi người sau đó đều tránh xa và Medusa cô đơn suốt phần đời còn lại cho tới lúc chết (ở trong hang).

Tích này nghe hợp lý hơn mấy tích khác nói Medusa chỉ là nạn nhân của một vụ săn đuổi. Không tự dưng chỉ là nạn nhân mà lại khiến thần nổi giận lôi đình trừng phạt nặng vậy ? Nghe hơi sai sai..😅

Câu chuyện về Medusa đúng tới tận bây giờ. Trời đất xưa nay không ưa kẻ ngạo mạn, dù là ngạo mạn về sắc hay tiền tài.

Trong ba chị em nhà gorgon, chỉ có Medusa là không bất tử như hai chị của mình. Medusa sau này đã chết dưới tay anh hùng Perseus, con trai thần Zeus, vị thần chúa tể trên đỉnh Olympia. 

Trước khi lên đường đi diệt Medusa, Perseus được các thần linh hỗ trợ tặng cho đôi dép có cánh, mũ tàng hình, gươm, túi thần …  

Đặc biệt thần Athena tặng cho một tấm khiên sáng loáng. Tấm khiên này đã giúp Perseus thấy được Medusa mà không phải nhìn trực tiếp. Nhờ đó đã chặt được đầu Medusa mang về để cứu mẹ mình thoát khỏi vua Polydectes… Sau đó Perseus tặng cái đầu Medusa cho nữ thần Athena.

Gì chứ đùa với Athena, nữ thần của Trí tuệ và Chiến tranh thì .. chỉ có lỗ 😅😅😅

Người Hy Lạp trông thế mà thâm thúy. Đối với họ, cái Đẹp luôn có thể chết 😎

Ngày nay ở Hy Lạp và Ý, người ta vẫn dùng biểu tượng đầu Medusa gắn trên cửa, trên gươm đao hay phù điêu để xua đuổi ma quỷ 😈 Hãng thời trang Versace thậm chí còn đưa đầu Medusa vào logo biểu tượng của hãng.

Ảnh: tạo hình Medusa trong phim Medusa (do Uma Thurman đóng)

Annie và Proust

Các nhà văn cũng hay nói về nhau. Và trong số đó Proust là người nói to hơn những người khác. Annie Ernaux có một cách diễn tả thú vị về điều đó: « La Recherche là một tác phẩm bắt buộc đối với các nhà văn. Giống như các tín đồ công giáo thế kỷ 17 bắt chước Chúa Jesus vậy ».

Annie Ernaux có phải là fan của Proust không ? Nhìn qua thì nhà văn này không phải style của bà. Trên thực tế, ông là đàn ông và có râu. Còn bà, một phụ nữ từng nói khá nhiều về việc « viết văn bằng cả cơ thể của mình ». Thẩm mỹ của họ khá khác nhau. Một người thì nổi tiếng về những câu dài  dằng dặc cùng niềm say mê gần như huyền bí về phép ẩn dụ. Đối với ông, đó là thứ « duy nhất có thể tạo ra một dạng bất tử trong phong cách ». Còn người kia thì ưa thích cách ‘viết phẳng » thong thả theo chủ nghĩa tối giản. Một người thì dựng lên một nhà thờ khổng lồ nơi mổ xẻ những quyến rũ và lố bịch của một xã hội trần tục ưa ăn uống và đi dạo. Người kia thì thường xây những nhà nguyện kiểu francisco để nói về cảm giác đau đớn đã « phản bội » cái môi trường bình dân mà bà xuất thân.

Subscribe to get access

Read more of this content when you subscribe today.

Nguồn: L’OBS hors-serie tháng 10/2022

Annie Ernaux: « văn học chưa bao giờ trung lập »

Lời giới thiệu: sau cuộc họp báo với nhà xuất bản Gallimard, Annie Ernaux đã đồng ý một cuộc trò chuyện đặc biệt với kênh France Inter. Bà tâm sự về cha mẹ – những người từ nông dân trở thành tiểu thương, vai trò của trường học, của những cuốn sách .. những thứ giúp bà thay đổi môi trường sống và trở thành nhà văn. Bà định nghĩa việc viết như một cách để đạt tới hiện thực, hiện thực của người phụ nữ, tất nhiên, nhưng cũng cả hiện thực của phe thống trị ..
Độc giả biết ơn Annie Ernaux về cách thể hiện tình yêu của bà, về cảm xúc và sự tôn trọng mà bà đón nhận với sự khiêm tốn như khi bà nghe radio trong bếp đưa tin giải Nobel văn học năm nay được trao cho bà. Phản ứng đầu tiên của bà vào giờ phút đó như thế nào ?
Annie: Tôi rất ngạc nhiên khi nghe tin, có cái gì đó bỗng dưng trống rỗng giống như khi bạn không nhận thức được điều gì đang xảy ra với mình. Phải mất một lúc lâu tôi mới tin rằng tôi thực sự được nhận giải Nobel. 
Đó là một trách nhiệm lớn lao nối tiếp sự cam kết trong việc viết văn của tôi.
– Bà đã nói đến « trách nhiệm » gần như ngay lập tức trên truyền hình Thụy Điển khi vinh dự được nhận giải Nobel và cũng là một trách nhiệm lớn lao. Bà muốn nói gì qua điều đó ?
Annie: Tôi muốn nói rằng bằng công việc viết văn của mình cũng như nhiều việc khác đặc biệt khi được nhiều người biết đến, nhất là trong việc viết một cuốn sách, tôi cảm thấy rằng tôi có một cách thức diễn đạt những từ ngữ có khả năng gợi mở cảm xúc nào đó, hay cách diễn đạt riêng trong việc chống lại sự nghèo đói, sự bất bình đẳng giới … Tôi nghĩ rằng văn học không trung lập, văn học chưa bao giờ là trung lập, dù nói một cách mượt mà hay một kiểu viết đẹp thì cũng như một cách để che giấu sức mạnh của nó.
– Một hành động, một cách vận hành, có phải không ?
Annie: Một hành động đối với những người đọc và cả những người không đọc.
– Bằng cách nào vậy thưa bà ?
Annie: Ví dụ, có nhiều người chưa đọc tôi, và có thể cũng không muốn đọc, nhưng họ nghe thấy những điều tôi nói qua những kênh khác như trường học chẳng hạn..
– Bà đã từng là giáo viên phải không ? Nhiều bài văn của bà cũng được đưa vào nghiên cứu ở trường học hiện nay..
Annie: Đúng vậy, tôi còn nhớ đã từng nói với các học trò của mình.. Không, văn học không trung lập. Tôi thấy điều đó khá quan trọng.

– Hội đồng trao giải Nobel nói rằng bà được trao thưởng về sự dũng cảm ở chỗ bà nhận ra gốc rễ, sự ghẻ lạnh, sự hạn chế của tập thể, về ký ức cá nhân.. nhưng đặc biệt về lòng dũng cảm, bà cảm thấy điều đó thế nào ?
Annie: Lòng dũng cảm đối với tôi không chỉ là ngồi vào bàn và cầm bút viết, mà có rất nhiều dạng thức khác nhau chúng ta thấy hàng ngày trong những công việc thường ngày, những công việc chân tay, chăm sóc mọi thứ.. hay chúng ta nói về lòng dũng cảm của người Ukraina..họ thực sự dũng cảm.. còn công việc viết thì đúng ra đó là một may mắn được viết, phải không ?
– Bà không thích lắm khi người ta nói rằng bà là một nhà văn cam kết, điều đó đối với bà như thuộc về một thời kỳ khác ?
Annie: Đúng vậy, đối với tôi, khi người ta nói về một nhà văn cam kết, tôi nghĩ đến Jean Paul Sartre hay thậm chí là Camus..

– Nhưng một cuốn sách dù sao cũng có một cam kết nào đó ..
Annie: Đúng vậy, tôi cũng có những cam kết trong các cuốn sách của mình..

– Bà xuất thân từ một môi trường nghèo khó và đã thoát ra nhờ các cuốn sách của mình. Ngày hôm nay khi được nhận giải Nobel và nhìn lại thời đó bà cảm thấy thế nào ? Trong buổi họp báo bà có nói một câu là « để báo thù cho nòi giống của mình » , một câu khá mạnh..
Annie: vâng, đó là một cách nói khá mạnh mà tôi hay dùng từ hồi 22 tuổi, thỉnh thoảng tôi vẫn dùng. Nó như một quyết tâm tôi cũng không biết vì sao nữa …ý tôi muốn nói là việc viết văn có thể nói lên hiện thực. Tận cùng công việc viết của tôi luôn để nói lên một hiện thực nào đó, hiện thực của người phụ nữ, hiện thực của xã hội ..không phải tôi có thể làm ngay một lúc.. đó là cả một quá trình đấy.

– Bà có nói về tầm quan trọng những cuốn sách của Pierre Bourdieu đối với với bà, bà cũng từng viết về nỗi xấu hổ mang tính xã hội, sự hạn chế, cảm giác không bao giờ được ở vào vị trí của người này người kia..và khi ta thay đổi vị trí xã hội .. Liệu nó có dịu đi chút nào đó hay vẫn còn là, tôi không nói nó như một ngọn lửa luôn cháy, nhưng có thể như cái gì đó nhói trong lòng ?

Annie: Tôi không muốn nói về thời thơ ấu nhất là thời niên thiếu dù nó luôn ở trong tôi cảm xúc không thuộc về một giới nào đó… Người ta nên nhìn về quá khứ để biết ta đến từ đâu và tập trung vào cái  ta còn thiếu ..
– Bà nghĩ đến cha mẹ khi biết tin mình đoạt giải Nobel ?
Annie: Vâng, tôi nghĩ đến cha mẹ, gia đình.. đến điều mà tôi có thể làm cuộc sống của mình tốt hơn.. Tôi không viết để mong được Nobel, tôi viết để tìm điều gì đó đúng.. tôi đã trải qua nhiều điều .. tận cùng của những thứ tôi viết ra nhờ những gì tôi thấy, tôi được trải nghiệm ..
– Về việc viết văn, tôi có cảm giác là đối với bà những gì không trải nghiệm thì không viết.. hay nói một cách khác chỉ viết những gì bà trải nghiệm ?
Annie:  Không, mọi thứ không phải lúc nào cũng toạc ra hết.. Có những người đã có những mối tình vĩ đại.. nhưng có bao nhiêu người viết ra khi họ được sống những mối tình đó ? Cảm giác mọi thứ trôi qua rất nhanh.. Đối với tôi một ngày mà không viết thì tôi cảm thấy nó như một ngày bị mất mát vậy.
– Một ngày của bà diễn ra như thế nào? Bà có viết liên tục không ?
Annie: Ồ không, không, tôi không thể viết liên tục như vậy. Luôn có những thứ ngăn cản.. những cám dỗ, tình trạng sức khoẻ.. nói chung không phải lúc nào cũng có thể viết đâu.
– Bà thấy đó, bây giờ đã có một cộng đồng đang phát sốt tìm đọc bà, đồng hành cùng bà, yêu qúy bà .. thậm chí cả thế hệ trẻ trong số đó.. Bà nghĩ gì về những độc giả của mình, nó gợi lên trong bà điều gì ?
Annie: Tất nhiên tôi rất hạnh phúc, thậm chí là không thể tin được điều đó. Có một khoảng cách trong việc viết ra các từ ngữ và hình ảnh trong đầu, một công việc khó giải thích, một công việc cô đơn… Sau cùng thì tôi được nuôi dưỡng bởi văn học. Tôi có cảm giác đang tham dự vào hệ của những người viết và truyền tải thông điệp ..  
– Điều gì gợi lên trong bà giữa những cuốn sách của mình và thế hệ trẻ hiện nay. Có điều gì đó vô hình tạo nên một liên kết mạnh mẽ giữa các cuốn sách và độc giả của bà.
Annie: Tôi không thể giải thích được tất cả. Có thể tôi có những trải nghiệm sống nào đó chẳng hạn như tôi đã không được nuôi dạy một cách truyền thống. Cha tôi rất hiền và hay nấu nướng, mẹ tôi thì tính cách khá mạnh và tôi nghĩ tôi ảnh hưởng nhiều từ bà, từ những suy nghĩ cách tân của bà..
– Có thể là một sự nổi loạn đâu đó ?
Annie: Vâng, hẳn là vậy.  Một sự nổi loạn đâu đó trong những gì tôi viết .. 
– Annie, bà nghĩ gì về hình ảnh một phụ nữ trẻ vứt bỏ các định kiến, xén tóc, xuống đường biểu tình, đối diện với các rủi ro chết người để đòi sự tự do ?  
Annie: Đó hẳn là một con người rất dũng cảm. Vấn đề là người ta tự hỏi có thể làm gì. Nhưng các chính phủ và các nước làm gì khi thấy những điều đang diễn ra, có thể nói nó là một tội ác chống lại nữ giới. Chúng ta phẫn nộ khi nói đến những gì xảy ra ở Ukraina.. nhưng tôi không thấy nhiều người nói đến vấn đề của nữ giới … Thật khủng khiếp !

– Bà khuyên gì các độc giả trẻ, những người còn chưa đọc bà, nên bắt đầu bằng cuốn sách nào ?
Annie: Còn tùy thuộc đó là ai (cười). Nó phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố tính cách của người đọc. Vâng có thể là cuốn « La Place » hoặc l’Evénement » (Sự kiện) hay là ‘Les années » (Những năm tháng)..
– Bây giờ bà đã thuộc vào cộng đồng những người Pháp đoạt giải Nobel. Trong số họ, bà cảm thấy gần gũi với ai ?
Annie: Có thể tôi cảm thấy gần với Camus, có thể vì cuốn Premier Homme của ông ấy. Nhưng không chỉ có vậy.. Nếu tôi nói với anh rằng một lời nói của ông ấy đã ghi khắc trong tôi lúc ông ấy phát biểu khi nhận giải Nobel, một cách rất khiêm tốn.. tôi không nhớ chính xác nhưng ý ông ấy nói ông sẽ trở lại nếu ông còn thời gian để viết .. Tôi nghĩ rằng lúc đó ông ấy đã viết cuốn Premier Homme rồi.
– Bà đã có diễn văn trong đầu để chuẩn bị nhận giải chưa ?
Annie: Ồ không, tôi chưa biết nói gì. Nhưng có lẽ đó sẽ là một phát biểu mang tính cam kết.

nguồn: France Inter 7/10/22

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly

TÌNH YÊU SẼ TRỞ LẠI THEO MỘT CÁCH KHÁC !
Khi đã 40 tuổi, nhà văn Franz Kafka (1883 – 1924) vẫn chưa kết hôn hay con cái gì, ông đang tản bộ trong công viên ở Berlin thì thấy một bé gái đang khóc vì lỡ đánh mất con búp bê yêu dấu. Kafka cùng cô bé tìm con búp bê nhưng không thấy đâu cả. Kafka đành hẹn cô bé gặp nhau ở chỗ cũ vào ngày mai để tìm kiếm thêm.Ngày hôm sau, tìm mãi mà chẳng được, Kafka nghĩ ra cách đưa cô bé một lá thư « được viết » bởi con búp bê với nội dung « Xin chị đừng đau buồn, em đang chu du đi khắp thế giới chị ạ. Em sẽ viết thư gửi chị kể về hành trình phiêu lưu của em nhé. »Vậy là những câu chuyện phiêu lưu được kể qua thư cứ tiếp nối nhau mãi, cho đến khi Kafka sắp qua đời.Trong tất cả những lần gặp gỡ, Kafka đều lấy ra một lá thư mới, đọc cho cô bé nghe về những chuyến phiêu lưu kì thú của con búp bê và khiến cô bé thấy rất vui vẻ.Cuối cùng, khi bệnh lao phổi trở nặng, Kafka mua tặng cô bé một con búp bê mới và nói rằng nó đã trở về nhà sau hành trình quanh thế giới. »Sao nó chẳng giống con búp bê của cháu tí nào cả, » cô bé thắc mắc.Sau lưng con búp bê được đính kèm một lá thư, trong đó viết: « Những chuyến phiêu lưu đã thay đổi em chị ạ. » Cô bé liền vui sướng ôm chầm lấy con búp bê và hạnh phúc trở về nhà.Một năm sau, Kafka qua đời.Nhiều năm sau, cô gái nhỏ giờ đã lớn, trong lúc dọn dẹp đống đồ chơi, cô tìm thấy một bức thư nhỏ xíu ký tên Kafka ở bên trong con búp bê. Trong đó viết: »Những thứ cháu yêu quý có thể sẽ mất đi, nhưng sau cùng thì, tình yêu sẽ trở lại với cháu theo một cách khác. »
ST.

Mario Vargas Llosa: nếu anh là một nhà sáng tạo thực thụ, anh ở khắp nơi !

Mario Vargas Llosa sinh tại Peru, sống 10 năm đầu tiên ở Bolivia. Sau khi học luật và văn học ở Lima, ông nhận được học bổng ở Madrid và hòan thành luận văn. Sau đó ông sang Paris sống 9 năm. Ông hâm mộ Flaubert, Victor Hugo, Malraux, Sartre , Camus.. và kết bạn với những cây cổ thụ của văn học Mỹ la tinh như Julio Cortazar, Carlos Fuentes, Octvio Paz và Gabriel Garcia Marquez (riêng với Gabriel sau này ông có xung đột về tư tưởng nên đã cắt đứt mối quan hệ này)

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông , Thành phố và bầy chó (La Ville et les chiens) gây được tiếng vang và rất thành công cũng như những cuốn tiếp theo: Lầu Xanh (La maison verte), Trò chuyện ở quán Nhà thờ (Conversation à la Cathédrale), Dì Julia (La Tante Julia) , Người Cẩu thả (Le Scribouillard) và Lễ hội dê (La Fete au bouc) .
Ông có tài ở nhiều thể lọai: tiểu thuyết, phê bình nghệ thuật, chuyện ngắn, ghi chép, viết kịch, viết báo, ông cũng viết cả chuyện cho trẻ em..
Từng sống ở Paris, Berlin, London, Mỹ, Tây Ban Nha, ông nhận được khá nhiều giải thưởng quốc tế, trong đó có giải Nobel văn học năm 2010, do vua Thụy Điển trao tặng. Ông đuợc vua Tây Ban Nha vinh danh và được ghi tên vào Viện Hòang Gia Tây Ban Nha.

Mới đây, nhà văn gốc Peru đã trở thành tác giả người nước ngoài đầu tiên vinh dự bước chân vào La Pléiade danh tiếng (tủ sách tinh hoa văn học). Nhân dịp này, ông đã dành một cuộc trò chuyện đặc biệt với tạp chí Point de Vue ( Pháp).

– La Pléiade vừa trân trọng giới thiệu tiểu thuyết hư cấu của ông trong 2 số liền. Điều đó có ý nghĩa gì với ông ?

– Đó là một đặc quyền lớn lao mà NXB Gallimard dành cho tôi. Tôi ý thức được điều đó và rất vui . Hàng năm vào ngày sinh của tôi, tôi vẫn mua một tập của Pléiade. Tôi phải tiết kiệm tiền cả năm mới tự tặng mình một món quà như vậy mỗi năm .

– Ông có nhớ tập đầu tiên mà ông đã mua không ?

– Đó là tác phẩm của Rimbaud . Tôi mê tác giả này từ lúc còn trẻ .

– Ông đã có được tất cả vinh dự trên thế giới, ông viết nhiều thể lọai văn học, nhận nhiều giải thưởng . Vậy những thách thức tiếp theo của ông là gì ? Còn gì để ông thử nghiệm nữa đây ?

– Còn biết bao điều tôi chưa làm mà. Tôi biết rằng tôi không có thời gian để thực hiện tất cả. Nhưng khi tôi còn sống, tôi sẽ cố gắng không ngừng làm mới mình. Các kế họach của tôi hiện nay đặc biệt dành cho văn học : tôi còn biết bao câu chuyện muốn kể ! Tôi có một dự án rất tham lam mà tôi chắc sẽ chả có đủ thời gian để hoàn thành, đó là chủ đề về tự do. Tôi muốn kể câu chuyện làm thế nào mà một ông, sống trong một làng nhỏ xứ Ecosse, đã bắt đầu tự đặt câu hỏi: tự do là gì. Nó tạo ra một dòng chảy lịch sử, xã hội, văn hóa, kinh tế; điều mà cuối cùng cho phép xã hội biến chuyển. Tôi muốn kết thúc cuộc đời mình bằng cách ít nhất là bắt đầu viết cuốn sách này.

– Phải chăng nước Pháp và nền văn học Pháp đã làm nên ông ? Liệu ông có thể trở thành nhà văn không, nếu vẫn ở Peru ?

– Nếu tôi vẫn ở Peru, tôi sẽ trở thành một nhà văn rất khác. Các kinh nghiệm ở châu Âu của tôi đã khiến tôi thay đổi sâu sắc. Nó góp phần tạo nên tôi, làm nên con người tôi như hôm nay. Nếu không có kinh nghiệm sống ở nước ngoài, tôi sẽ không trở thành nhà văn như tôi hôm nay. Sự ảnh hưởng lớn nhất đánh dấu nơi tôi là sự ảnh hưởng của nước Pháp. Hồi trẻ, tôi ngốn ngấu đọc các tác phẩm cổ điển Pháp. Ngay khi bắt đầu học tiếng Pháp ở trường đại học, tôi đã đọc bằng tiếng Pháp và tôi đọc chủ yếu các tác giả Pháp. Rồi 8 năm sống ở Pháp vào đầu những năm 60 là những năm quan trọng nhất trong sự học hành của tôi. Chính ở Paris tôi đã thực sự trở thành nhà văn. Cũng chính ở Paris tôi đã khám phá châu Mỹ la tinh có góc nhìn văn hóa và văn học, cái mà trước đó tôi hoàn tòan mù mờ. Thời đó, người ta sống trong sự chia cắt nào đó của đất nước . Tôi còn chưa có ý thức về sự tồn tại của một thực thể văn hóa. Nước Pháp đã mang đến cho tôi ý tưởng về tính phổ quát : anh không chỉ viết về một nơi nho nhỏ nào đó quanh anh. Tầm nhìn của người sáng tạo văn học nghệ thuật phải là tầm nhìn của thế giới. Ngòai tính phổ quát này, là tiếng gọi tự nhiên của văn hóa Pháp. Và tính phê bình, một đặc tính cơ bản khác của văn hóa Pháp, nó rất hiện hữu trong cách viết của tôi.

– Người Peru trở thành người Tây Ban Nha, rồi ông đã sống ở Bolivia, Pháp, Đức, Anh và Mỹ. Ông có cảm thấy mình như một nhà văn Nam Mỹ không ? hay là một nhà văn tòan cầu ?

– Nếu anh là một nhà sáng tạo thực thụ, anh ở khắp nơi. Ngay cả khi gốc rễ của anh gắn với một nơi nào đó. Tôi nói tiếng Tây Ban Nha – Peru. Trong những cuốn sách thực hiện ở Peru, tôi đặc biệt sử dụng ngôn ngữ Tây Ban Nha – Peru này, nhưng nếu nó được thực hiện ở Brazil hay Cộng hòa Dominica, tôi sẽ viết bằng tiếng Tây Ban Nha phổ thông . Tính tư duy , tầm nhìn mà tôi có với tư cách nhà văn không bị đóng dấu bởi một xã hội đặc thù nào. Kinh nghiệm của tôi là luôn tòan cầu hơn. Vả lại, văn chương thực thụ thì luôn luôn phổ quát. Tôi cảm thấy vững vàng ở khắp nơi, tôi biết tôi sống ở đâu. Hiện tôi sống ở Tây Ban Nha, nơi tôi tham dự vào đời sống văn hóa Tây Ban Nha. Cũng vậy khi tôi sống ở Anh, Pháp hay Mỹ. Tôi hòa nhập ngay lập tức với nơi tôi sống. Ngay cả những nơi có thể có vẻ kỳ lạ với tôi, thì tôi cũng cảm thấy như nhà mình. Tôi trở thành một công dân thế giới như thế đấy. Đó là đặc quyền của các văn sĩ, các nghệ sĩ . Ngay cả khi anh không ra khỏi nước mình, thế giới của một người sáng tạo cũng không bị giới hạn bởi các biên giới.

– Thời trẻ ông đã ngốn ngấu các tác phẩm cổ điển. Trong khi đó, cha ông đã từng tìm cách để tránh cho ông khỏi ảnh hưởng của văn chương. Điều gì trong ông đã quyết định cái nhu cầu viết lôi cuốn này ?

– Đó là một sự lựa chọn. Người ta thường có một khuynh hướng nào đó, và vào một lúc nào đó, ta chọn trở thành nhà văn. Vậy thì như Flaubert nói, viết đã trở thành một cách sống. Và ta tổ chức tòan bộ đời sống của ta theo sự lựa chọn đó. Tất cả đều dẫn tới viết và viết. Năm 1958 tôi ở Madrid và lấy bằng tiến sĩ văn học. Tôi đã hiểu rằng nếu tôi muốn trở thành một nhà văn, tôi phải cấu trúc cuộc sống của tôi hòan toàn theo tiếng gọi đó. Tôi đã biết từ lúc đó rằng viết phải trở thành mối bận tâm đầu tiên của tôi và tôi phải tự điều chỉnh các năng lượng của mình để viết, ngay cả nếu tôi phải làm việc ở đâu đó để kiếm sống. Tôi đã rất may mắn bởi vì ở Paris tôi đã tìm được những công việc cho tôi có thời gian rảnh. Tôi làm những việc này chỉ với lý do duy nhất là nó cho phép tôi viết hàng ngày một cách có kỷ luật.

« Tiểu thuyết là câu chuyện riêng tư của các dân tộc » là một câu dẫn của Balzac nhấn mạnh trong cuốn Trò chuyện ở quán Nhà thờ (Conversation à la Cathédrale). Ông theo đuổi mục tiêu nào qua tác phẩm hư cấu của ông ?

– Tiểu thuyết diễn tả đời sống xã hội của một viễn cảnh mà không phải viễn cảnh của lịch sử, của xã hội học, hay của báo chí. Nó không chỉ phản ánh hành động của con nguời, mà còn cả đời sống bên trong họ. Văn học có thể trăn trở về những giấc mơ, những ảo tưởng. Cái không gian bí mật này thóat khỏi lịch sử . Nó cho chúng ta cái nhìn hoàn tòan về cuộc sống.

– Ông có cảm thấy vừa bất lực với việc nhà văn sống trong thế giới thực , vừa cảm thấy mạnh mẽ để tạo ra một thế giới khác nhờ sức mạnh của trí tưởng tượng ? Ông có sống cuộc sống của các nhân vật anh hùng của ông ?

– Người ta xây dựng các nhân vật. Nhưng điều rất thú vị ở chỗ vào một lúc nào đó, các nhân vật giải phóng khỏi tác giả và trở thành những ngừoi tự do, có những tính cách riêng của họ mà ta phải tôn trọng. Ta không thể áp đặt cho họ một cách ứng xử nào đó . Khi ta phát hiện ra rằng có một sự bắt chước cuộc sống thực sự, đó là lúc thích thú nhất và cũng cảm động nhất trong công việc viết văn.

– Ông đôi khi đã dấn sang chính trị: khi ông ra ứng cử tổng thống Peru, hay bây giờ trong việc bảo vệ thể chế dân chủ ở Venezuela. Ông làm thế nào để duy trì sự cân bằng tế nhị này ?

– Văn học mãi luôn là mối quan tâm hàng đầu của tôi. Tôi tham dự vào các cuộc tranh luận chính trị với tư cách nhà văn , đặc biệt bằng cách viết. Thời gian ra ứng cử tổng thống chỉ là một giai đọan rất ngắn trong cuộc đời tôi. Chính bằng những bài tôi viết trên báo là tôi tham dự vào các cuộc bàn luận công cộng. Tôi tin đó là một trách nhiệm, không chỉ đối với các nhà văn mà đối với tất cả mọi người. Nếu anh không tham gia vào đời sống chính trị, anh không có quyền than phiền. Đó là một trách nhiệm công dân và đạo đức. Nhưng chính trị không phải là tiếng gọi của tôi.

– Theo ông, đâu là tương lai của văn học khi đối diện với cơn bão về hình ảnh và giải trí ?

– Văn học sẽ sống tiếp. Nhưng sẽ là rất buồn nếu văn học chỉ sống trong các hầm mộ, một cách ngoài lề . Cũng có thể rằng phần lớn xã hội có thể từ chối văn học và chọn hình ảnh để giao tiếp, để thông tin hoặc để giải trí. Nó sẽ là một sự bào mòn khủng khiếp trong đời sống nếu điều đó xảy ra. Đó sẽ là do xã hội lựa chọn chứ không phải một định mệnh. Ngôn ngữ và văn học không thể bị thay thế bởi các hình ảnh nhân tạo. Những hình ảnh không có khả năng ý thức về thực tế một cách phức hợp . Khi công chúng nhận hình ảnh, họ trở nên thụ động. Tư duy phê bình sẽ biến mất cùng với văn học. Tất cả những điều đó, thật may, vẫn còn khá xa. Tuy nhiên cũng có những dấu hiệu đáng lo ngại.

– Từ nào là từ yêu thích của ông ?
– Tự do ! Bởi tự do cho phép con người và xã hội phát triển. Nó hỗ trợ giao tiếp và sự gắn kết hòa bình giữa con người. Đó là một cơ bản về quyền con người. Tóm lại, tự do đã tạo nên tất cả các tiến bộ của nhân lọai.

(dịch từ tạp chí Point de Vue, số 3532, tuần đầu tiên của tháng 4/2016)

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly