Trang moi

Đàn bà với Valloton: tạo vật đáng thèm và đáng sợ

Dù cả đời Valloton không ngừng miêu tả những đường cong cơ thể phụ nữ, nhưng đối với ông chúng mãi vẫn là bí ẩn. Trên toile, ông tóm bắt, ông dò xét, lột quần áo và soi mói chúng ở mọi góc cạnh. Cái cơ thể khác lạ hấp dẫn kia khiến ông vừa say mê vừa sợ hãi. Qua các bức tranh thị nữ ông vẽ vừa phá cách vừa khiêu khích, đàn bà sở hữu đủ thứ: lúc thì lạnh lùng, lúc thì gợi dục, lúc lại nguy hiểm, quyến rũ và mong manh… nhưng luôn luôn hấp dẫn. Valloton không bỏ qua chủ đề khỏa thân tắm táp, một chủ đề khá “top” trong lịch sử nghệ thuật. Theo chân các họa sĩ ấn tượng và nhóm Nabis, ông quan sát phụ nữ trong những cử động riêng tư đời thường, nhưng thêm vào đó một chút lạ lùng, một chút hài hước. Như cô gái tóc đỏ đang vấn tóc lên trong nhà tắm được miêu tả không “happy”, dù trông rất hồng hào và đầy đặn.

“Femme au bain se coiffant” (Người đàn bà vấn tóc khi tắm, 1897)

Hay bức Le Bain Turc (Nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ) vẽ năm 1907, dù trong một khung cảnh khá quen thuộc, nhưng thể hiện rất duyên dáng. Bức này có cảm hứng từ kiệt tác của Ingres mà ông đã chiêm ngưỡng năm 1905, xúc động đến chảy nước mắt, nhân dịp tưởng nhớ danh họa tại Grand Palais. Ông thú nhận với sự thán phục: “Chỉ riêng cách mà Ingres bo các đường nét đã khiến tôi cảm nhận ngay sự ấm nóng của cơ thể nữ và sức nặng của bầu vú”. Cũng vậy, bức Le bain Turc là sự triển khai các đường cong khiêu khích từ da thịt cho tới nhục cảm đã bị đóng băng.

Cũng như các họa sĩ Phục Hưng, Valloton cũng khai thác tính gợi dục ở chủ đề ngủ khỏa thân. Tuy nhiên, năm 1897, bức Femme nue assie dans un fauteuil rouge (Người đàn bà ngủ ngồi trên ghế bành đỏ) bị loại ra khỏi định nghĩa về sự gợi cảm: da thịt bị nặng nề, cơ thể thì gập khúc, ngực bị bẹp, còn cánh tay thì đơ thuỗn ra. Bức tranh này như một dạng thử nghiệm cấp tiến, tổng hợp các kinh nghiệm của Nabis với màu sắc phẳng, các đường bao đen, thiếu độ sâu, và sự đối lập giữa các đường cong và đường thẳng.

17 năm sau, bức Nu à l’écharpe verte (Khỏa thân với khăn choàng xanh) cũng lấy tương phản mạnh giữa đỏ và xanh lá, nhưng xử lý khỏa thân hoàn toàn khác. Dáng nằm uể oải giống các mỹ nhân trong tranh cổ điển, đường nét rất Ingres nhưng phần trang trí lại khá đương đại và lông nách thì phơi ra trắng trợn.

Những cặp đôi chơi đùa, nhảy múa hoặc chỉ nhìn nhau chằm chằm xuất hiện thường xuyên trên các tác phẩm của Valloton. Vừa gợi những lạc thú vừa gợi tính hai mặt của đàn bà. Trong bức Femmes nues aux chats – 1897 (Hai cô khỏa thân với mèo), vẽ thời vẫn còn ảnh hưởng phong cách Nabis, gối nệm thì lộn xộn, phía sau thấy cả một góc nhà tắm, trông như trong một nhà thổ. Hai cô gái, một tóc vàng một tóc nâu, trông như đang giải trí một chút giữa hai đợt khách. Vào những năm 1910, việc hai người đàn bà với nhau thế này còn gây mập mờ hơn nữa. Không khí ở đây nặng trĩu vì những thái độ căng cứng nào đó; có cái gì đó không liên quan và cả sự đối lập giữa hai nhân vật chính.

Cũng vậy, trong bức La blanche et la noir (Cô trắng và cô đen) vẽ năm 1913, có khoảng cách giữa hai nhân vật, nhưng tính hệ thống quen thuộc thì đã đảo chỗ: cô đen, mặc váy áo đeo trang sức, điếu thuốc trên môi, ngồi nhìn soi xét cô trắng khỏa thân đang ngủ ườn ra.

Đầu thế kỷ 20, Valloton vẽ liên tiếp những bức tranh phi lý, lấy cảm hứng từ thần thọai Hy lạp mà ông tự do diễn dịch theo phong cách Bocklin, một người thầy mà ông rất phục. Trong bức Roger delivrant Angélique (Roger giải cứu Angélique – 1907), nguời đẹp ngủ mê mệt trên cát, thờ ơ với trận chiến của Roger (người bảo trợ cô) với con rồng. Bị chế nhạo, bị tuớc danh hiệu anh hùng, đàn ông ở đây bị coi như đồ chơi của đàn bà.

Trong bức Orphée dépecé, thậm chí được cá nhân hóa bởi một đám các bà đang điên cuồng tấn công nhà thơ bằng những móng vuốt, dây gai và đá. Biểu tượng, chuyển dịch, hài hước, hay băng hoại… những hình ảnh lạ lùng này thời đó khiến người ta khó hiểu, nhưng cái nhìn của thời đại chúng ta có thể nắm bắt ở đó tính châm biếm và thẩm mỹ mà ngày nay ta có thể thấy ở các họa sĩ hậu hiện đại.

* phần lớn các bức tranh này đều thuộc các sưu tập của bảo tàng hoặc tư nhân ở Thụy Sĩ

(dịch và đăng trên Soi.today ngày 24/06/2015)

Câu chuyện màu xanh (lá cây)

Đó là màu của sinh thái, và cũng là màu của một số họa sĩ. Đứng thứ hai trong số các màu yêu thích của người Pháp, nhưng màu xanh lá cũng khiến nhiều diễn viên sợ hãi, và màu này không tồn tại trong tiếng Nhật.
Màu nào là màu yêu thích của bạn? Với câu hỏi kinh điển luôn được các viện nghiên cứu và thăm dò dư luận sử dụng để xác định sở thích của người tiêu dùng, màu xanh lá về vị trí thứ hai. Vâng, tất nhiên đứng sau màu xanh dương, nhưng đứng trước tất cả các màu còn lại. Ha! Một tin tức thật tuyệt dành cho màu xanh lá, sau một thời gian dài bị không ưa, bởi nó “không mâu thuẫn thì cũng mơ hồ”, như nhà sử học Michel Pastoureau nhấn mạnh. Ông cũng vừa cho ra một cuốn sách về chủ đề này.

Trong bức tranh Retable du Saint-Esprit (1521) của Lorenzo Lotto, có một chi tiết quan trọng: đôi tất xanh của thánh Antoine (bìa phải). Màu xanh (lá) của trang phục… có thể gợi lên lòng từ bi và hiểu biết.

Làm sao định nghĩa cái màu nổi tiếng làm dịu mắt và tinh thần này?
Màu xanh lá là một trong ba màu cơ bản, cùng với màu xanh dương và đỏ, tạo thành ánh sáng trắng.

Nếu nhóm lại, theo lý thuyết về màu sắc (màu của một vật hình thành từ ánh sáng mà nó nhận và gửi đi), màu xanh lá đóng vai trò quan trọng.
Ngày nay cũng vẫn từ lý thuyết của thế kỷ 18, coi màu vàng là màu cơ bản thứ ba, giáng màu xanh lá xuống hàng phụ là khá phổ biến. Ở phương Tây trước đây hay lẫn lộn màu xanh lá với màu vàng, nguời Hy Lạp thì dùng chung từ: khlôros để chỉ cả hai màu, trước khi người La Mã tách ra với viridis, cũng có nghĩa là thiên nhiên.
Nhưng ở một số nước châu Á, từ “xanh” không có nghĩa là màu xanh dương (bleu), mà nó có nhiều nghĩa, ví dụ như ở Thái Lan, từ “xanh”còn có nghĩa là hôi!
Giới nghệ thuật cũng không tỏ ra dịu dàng lắm với màu xanh lá. Đối với nhiều họa sĩ, cái màu này gây nhiều phiền toái về kỹ thuật. Chất màu khó xác định, khó làm việc, màu có vấn đề với ánh sáng.
Còn màu xanh khoáng (vert mineral) thì quá đắt, trong khi một số tông xanh khác ra đuợc nhờ trộn hóa chất thì lại độc hại. Chẳng hạn, giới diễn viên nhà hát rất ác cảm với màu xanh lá, vì để hào nhoáng một tý, trang phục sân khấu thường được nhuộm với oxyde đồng hoặc cyanure, độc tới mức có thể gây chết người . Từ thời Trung cổ, các họa sĩ thường dùng màu xanh lá một cách cảnh giác, ngay cả những người đã thành thạo với màu xanh lá như Giorgione hoặc Véronèse, nổi tiếng với các bức tranh vẽ gấm vóc xanh lè.

Trong bức “Miniature du Codex Capodilista” (khoảng 1435 – 1440) của Federico Carlotis: thời Trung cổ, trong các lễ rước, các ceremonie thì ngựa thường được khoác một tấm bố xanh, màu của tuổi trẻ và tình yêu (theo ký hiệu của giới hiệp sĩ)

Các nghệ sĩ thường hoài nghi về ý nghĩa rối rắm của màu xanh lá. Chất màu và những khó khăn vốn có khi pha chế nó có nguồn gốc từ sự mâu thuẫn có tính biểu tượng: bất thường, ngẫu nhiên, không ổn định. Nó có thể kết hợp một cách ngẫu nhiên tùy theo may rủi, với hy vọng cũng nhiều như thất vọng. Nó cũng là màu của những quái vật hay sinh vật ma quái: những mụ phù thủy, những “bà xanh” trong rừng, những hiệp sĩ xanh reo rắc sự rối loạn, con quỉ với con rắn trong lu, rồi rồng, cá sấu… Liệu có cần nhắc lại là màu xanh lá là màu của những cơ thể bệnh tật hoặc cái chết?

Màu xanh trong khu rừng của phim hoạt hình “Mononoke”

Đầu tiên là những người theo chủ nghĩa Lãng mạn kích thích những cảm xúc tự nhiên, tiếp đến là những người theo chủ nghĩa Ấn tượng, lấy lại chút uy tín cho màu xanh lá.

Tranh của Claude Monet

Cách đây chưa lâu, những người trung thành với phái Bauhaus còn khoác lên các bức khỏa thân 3 màu: đỏ, xanh dương, vàng; không có xanh lá! Kandinsky thì nhấn mạnh trong tác phẩm Du spirituel dans l’art et dans la peinture en particulier (1911 – “Về trí tuệ trong nghệ thuật và trong hội họa nói riêng”), trong đó ông tả màu xanh lá như “màu gây tê nhất” và “như trong xã hội tư sản: đó là một yếu tố bất biến, hài lòng về cái tôi, bị giới hạn trên mọi hướng”, “như một chị bò sữa to đùng, dồi dào sức khỏe, sinh con, rồi bị đông lạnh, chỉ có mỗi khả năng nhai lại”. Mondrian bồi thêm cú nữa: họa sĩ thú nhận căm ghét màu xanh lá và không bao giờ dùng nó.
Lời chào đón vậy là phải đến từ một lĩnh vực khác: từ y học và các vấn đề an toàn vệ sinh, bắt đầu biểu hiện trong thế kỷ 20. Với những đợt nghỉ phép có lương đầu tiên, xã hội đã cảm nhận được nhu cầu trở về tự nhiên để hồi phục, cách xa những khối nhà xám xịt. Trong thập niên 30, nhiều chính phủ đã ưu tiên cho những khoảng xanh, công viên, quảng trường.. trong khi các bác sĩ nhấn mạnh tầm quan trọng của những hoạt động ngoài trời. Màu xanh lá trở thành màu tiết kiệm và bước vào một giai đoạn may mắn. Nó phủ lên cuộc sống, từ chính trị cho tới cuộc sống hàng ngày: kiến trúc xanh, không gian xanh, hành lang xanh, năng lượng xanh, ôtô xanh..

Với sự ra đời của tổ chức Green Peace năm 1971, màu xanh lá thậm chí trở thành một ý thức hệ.
“Đúng là gió đổi chiều đối với một màu lâu nay không được ưa như màu xanh lá, màu mà ngay nay đang gánh sứ mệnh bất khả thi để cứu hành tinh” – Michel Pastoureau hóm hỉnh.
Và màu xanh lá cũng trở lại trong các sáng tạo đương đại. Fabrice Hyber đang rất say sưa với màu xanh lá. Ngay từ triển lãm đầu tiên mang tên Mutation vào năm 1986 ở Nantes, anh đã chọn màu xanh lá là màu ưu tiên, một màu xanh flashy, màu của mầm non mùa xuân, cái thời điểm mà năng lượng đang rất phấn khích. Trong tác phẩm “Hommes de Bessines” của anh, những hình người 87 cm mọc lên khắp nơi trên trái đất kể từ khi chúng được sinh ra năm 1989.

Màu sinh thái cũng được một số họa sĩ trực tiếp sử dụng, như Lois Weinberger, khi làm việc trên khái niệm thảm thực vật tự nhiên. Những đám cỏ dại mọc ở nơi chúng thấy thích hợp. Một cách để nghệ sĩ thăm dò về quá trình lai hóa, thực dân hóa, di cư… Năm 2012, phía sau nhà ga ở Rennes, anh đã cho đặt hàng ngàn chiếc xô nhựa đựng đầy đất, phơi giữa trời cho gió, cho chim….

Lois Weinberger chẳng gieo hạt gì vào đó nhưng cỏ vẫn mọc lên. Chỉ cần thời gian là nó sẽ um tùm hết các xô nhựa.
Màu xanh bắt đầu chiếm lĩnh tất cả các không gian đô thị, từ đất lên tường của thành phố, nơi giờ mọc lên các sáng tác của Patrick Blanc. Người đàn ông với tóc mái xanh, người sáng tạo ra những bức tường xanh, tự hiện thân cho thái độ xanh (green attitude) của mình. Anh hình dung ra những khu vườn thẳng đứng phủ lên các tòa nhà, bảo tàng, như hình ảnh của Quai Branly.
Trong khi đó, Thomas Struth lại gắn màu xanh lá với một cách nhìn mơ mộng và lý tưởng hóa về thiên nhiên. Trong series New pictures from Paradise, nhiếp ảnh gia người Đức này trình ra một chốn rất bình dị và không cho biết chụp ở đâu: Trung Quốc, Brazil, Nhật, California, hay Đức… Những khu rừng nguyên sinh, dày đặc, yên tĩnh, rực rỡ khi ánh sáng chớm tới,. hứa hẹn một thiên đường không bao giờ mất. Hiện thân cho một thế giới tốt hơn, lành mạnh hơn, công bằng hơn, màu xanh lá có vẻ vẫn còn nhiều ngày đẹp trời phía trước.

Thomas Struth, “New pictures from Paradise”

dịch và đăng trên Soi.today ngày 23/12/2013

Khen và chê quanh Modigliani

Nhân triển lãm Modigliani et l’Ecole de Paris ở Thụy Sĩ (từ 21. 6 đến 24. 11), tạp chí Mỹ thuật Pháp số mới nhất có bài viết sau:

Cũng như Chagall, Soutine hay Utrillo, Modigliani (1884- 1920) là một trong những nghệ sĩ có phong cách riêng hiện đại mà người ta chả biết xếp vào đâu. Người thì cho là ông thuộc nhóm các nhà cách tân (avant-garde), người lại nói ông thuộc phong cách cổ điển kiểu Ingres. Chàng nghệ sĩ Do Thái đến từ Livourne (Toscane) là hiện thân của mẫu họa sĩ bạc mệnh.

Sở hữu vẻ đẹp của vùng Địa Trung Hải, nhưng sức khỏe lại rất mong manh, Amedeo tới Paris lúc 22 tuổi và chết vì bệnh lao phổi lúc mới 35 tuổi. Hai ngày sau, người tình của ông nhảy lầu tự tử chết theo, lúc đó nàng đang mang thai đứa con thứ hai. 13 năm đủ để dệt nên một huyền thọai với những tình tiết đôi khi hơi ma mị, từ chuyên khảo đầu tiên của André Salmon năm 1926, lại càng dầy thêm những vùng mờ ảo trong câu chuyện về Modigliani. Khi thì chơi với nhóm Dã thú, lúc có mặt ở Bateau-Lavoir, nơi ra đời trường phái Lập thể, lúc lại thấy loáng thoáng bên hội Vị lai; Modigliani có vẻ không hứng thú gì với avant-garde. Nghệ thuật của ông có nét nguyên thủy, nhưng ông kiên định đi trên một con đường đơn độc, nơi những đôi mắt hình hạnh nhân, những chiếc cổ kéo dài trong những bức chân dung như tiếng vọng từ bên trong những chiếc mặt nạ châu Phi, hay những bức tranh của Parmesan hoặc Pontormo.

Trung thành với khuôn mặt người, chàng họa sĩ đẹp trai vẽ các bức chân dung và khỏa thân khá nhiều, tới mức triển lãm đầu tiên năm 1917 phải đóng cửa. Paul Alexandre và Leopold Zborowski là những nhà bảo trợ hiếm hoi cho nghệ sĩ này, và thành công đến với Modigliani một cách rụt rè vào năm 1914 với một tác phẩm điêu khắc.

Người ta nghĩ gì về chàng nghệ sĩ thích bình thơ của Dante và Verlaine này? Đối với Vlaminck và Cocteau “đó là một chàng quí tộc mà tạo hình của anh có một vẻ lịch lãm không chê vào đâu được”. Picasso thì bực mình khi cứ phải nghe câu “Modi le maudit” nên đã mua một bức của Modigliani rồi sau đó vẽ thẳng lên đó một tranh tĩnh vật. Nhưng một trong những phê bình cay nghiệt nhất lại chính từ người đồng hương, De Chirico. Trong hồi ký của mình,vị này ám chỉ “một thiên tài kiệt sức – kiểu Modigliani – trên một căn gác lạnh lẽo, khổ sở vì trung thành với lý tưởng cao cả, mơ màng một tuyệt tác mang cho mình danh vọng và tiền tài, nhưng cái tuyệt tác thường lại chỉ là miếng vỏ bánh giòn ngon miệng, như tất cả các chân dung và hình thể của Modigliani”.

Một phong cách lịch lãm buồn bã (Elégance mélancolique), hay một phong cách kiểu cách đơn điệu (manièrisme monotone)? Mời các bạn cùng thảo luận.

Có hai luồng ý kiến trái chiều sau:

Ủng hộ(của Stéphane Guégan – nhà sử học và phê bình mỹ thuật Pháp):

Nói “Có” với Modigliani, chính là thưởng thức không ngừng những chuyển động tinh tế của ông. Nói “Không” với Modigliani, tức là mắt bị đơ rồi, cũng giống sự khô cứng cũ rích kiểu phê bình Pháp. Cũng chả khác gì kiểu bịt miệng bịt tai Max Jacob, Appollinaire, Cocteau và Roger Fry, nếu không muốn dẫn thêm cả Le Clézio nữa.

Những nét thơ mộng tinh tế, những đuờng cong thần kỳ của một phong cách nghệ thuật hiện đại mà không chắp vá các thủ thuật của avant-garde. Một nghệ sĩ lớn lên từ sự dịu dàng của vùng Toscanes tự nhiên phải đương đầu với các thiên tài Paris đang nổi, Cezanne, Gauguin, Van Gogh, Toulouse-Lautrec và người đứng đầu lúc đó là Picasso. Cái nôi Ecole de Paris ấy đang ngập trong nhạt nhẽo, những thỏa hiệp hiện đại. Còn Modigliani, mang trong mình trái tim Florence và bóng dáng Venice, đã từ chối hiến Carpaccio và Bellini, thậm chí cả những đường nét gây hấn của Parmesan cho những sai khiến lúc đó. Trọng ý chứ không trọng từ, trọng nghĩa chứ không trọng nguyên tắc, đó là cái mà ông học được từ Nietzsche và Annunzio, Baudelaire hay Lautréamont. Chàng người Ý đã Pháp trước cả khi đặt chân tới thủ đô của nghệ thuật năm 1906.

Chuyển động đầu tiên, bức Nàng Do Thái (La Juive) năm 1908, đầy gợi cảm trong nỗi đau thống thiết, tranh còn ướt những vệt xanh của Picasso (khi ông này vẽ đè lên trước đó)*. Chuyển động tiếp, bức chân dung Juan Gris, lập thể theo một cách khác, hòa hợp những cách điệu tuyệt vời và đôi mắt đen.
Nàng Do Thái

Chuyển động cuối cùng, chân dung Max Jacob, người ta chưa bao giờ nắm bắt được người mẫu, tính hai mặt (double nature) của apache thế gian, hay một kiểu kabbalist converti, bị giằng xé giữa thánh đuờng Jerusalem và những khoái lạc trần gian.
Chân dung Max Jacob

Modigliani có một phong cách rất riêng, và uyển chuyển, nhất là ở những bức tranh cuối cùng, có lẽ là những bức tuyệt nhất.

Chủ nghĩa hiện đại đã định tặng ông một bữa tiệc phù hoa, nơi mà luật của cái mới không giấu nổi những sự phá sản của thế kỷ.

Ngoài Picasso và Matisse, ai khác có thể phản ứng nhanh đến thế với những cảnh báo của Appollinaire? Sự biến dần của tranh khỏa thân như một dấu hiệu của sự suy tàn nói chung. “Những nghệ sĩ trẻ bây giờ chả quan tâm đến Art khỏa thân, cái chính đáng hơn bất kỳ cái gì khác”.

Nếu bắt Appollinaire phải nói dối, thì những bức khỏa thân gắn với tên tuổi Modigliani kia chắc là đang chế nhạo tầng trời thứ 7, tầng của các họa sĩ vĩ đại nhất.
“Nu Couché au coussin Bleu”, 1916, sơn dầu trên canvas.

Không ủng hộ: (của Thomas Schlesser, nhà báo, nghiên cứu sử nghệ thuật):

Nào, giờ thì hãy mở to mắt ra một tí. Hãy xem chính tác phẩm của Amadeo đi, cũng chả phải khó chịu gì, nhưng những cái xung quanh nó thì sao. Rõ ràng, khi mà Kandinsky, Picasso, Mondriant, Klimt hay Boccioni đang đầy táo bạo, cuồng nhiệt, thì chàng họa sĩ này lại chứng tỏ một sự yếu đuối, ủy mị gần như bối rối.

Thờ ơ với Modigliani, không phải là khinh thường những tư chất cảm động nơi ông, mà đúng hơn là ghi nhận cái “lỗi không may mắn”. Ông mất ở tuổi 35. Ông có ít cơ hội để thể hiện tài năng. Cái thời đó, từ 1905 đến 1920, khi châu lục đang rung lên với sự phong phú về trí tuệ và thẩm mỹ, với những sáng tạo cuồng nhiệt. Khó mà thấy lại trong lịch sử. Có lẽ đó là một chu kỳ tinh hoa tuyệt vời duy nhất, những năm 1500-1520 qua đầu thế kỷ 20, toàn các thiên tài nghệ thuật (sự so sánh giữa hai giai đoạn này tốn khá nhiều giấy mực của giới phê bình ở châu Âu, khoảng cách 4 thế kỷ, đáng được phân tích kỹ càng).

Modigliani làm gì vào lúc nguyên tử được phát hiện, sự lan truyền tư tưởng Nietzsche, rồi chiến tranh thế giới, âm nhạc điện tử, những niềm hy vọng Mác-xít, những cạm bẫy độc tài, rồi tâm thần học sơ khai..? Vâng, những bức chân dung, những tranh khỏa thân, rất dễ thương, rất cảm động, rất bi ai… Ông ấy còn có khiếu đối với phong cách nguyên thủy nữa chứ! Vâng, những hình thể xinh đẹp, màu sắc hài hòa, nào nâu, nào hồng, nào xanh, thật tuyệt phải không? Người ta xem tranh ông, rồi ước ao trở thành người mẫu cho ông vẽ, rồi ra về với hình nộm của mình, với đôi mắt trống rỗng, cái cổ mảnh mai, đôi vai rũ xuống… Tuyệt nhỉ, nhưng thật buồn cười!
Tại sao các hướng dẫn ở trường đại học, các nghiên cứu sắc nét nhất, các khóa học ở các chuyên khoa… lại chỉ dành một vị trí phụ, một vị trí chiếu cố cho Modigliani? Bởi vì, đơn giản là ông ấy không phải ở tầm cao của thời đại mình! Một ví dụ nhé: cái vụ scandale vẻ vang của ông ấy, thật ngon lành phải không, Modi lẽ ra phải cảm ơn sự can thiệp của cảnh sát, và của gallery Berth Weill, nơi ông trưng ra những phụ nữ cởi truồng thấy cả lông mu, trong khi biết bao người đang ngã xuống chiến trường. Lúc đó Modi 33 tuổi và sự kiểm duyệt ấy thật lý tưởng để nuôi dưỡng hình ảnh của một nhà sáng tạo bị nguyền rủa (créateur maudit). Hãy xem trước đó Otto Dix làm gì, (chiến tranh, đó cũng là một sự nguyền rủa tàn bạo chả khác gì việc di cư đến Montparnasse), người Nga thì đang hỗn loạn trong cuộc cách mạng, Egon Schiele thì đang quay trong vòng xoáy địa ngục ở Vienne, thế mà bạn lại cho rằng: cái ông Modigliani này làm xúc động quá, rồi nào là họa sĩ lớn nữa! Họa sĩ dành cho các salon sang trọng của những người có gu, hay là cho các cuộc triển lãm thành công ạ?

(dịch và đăng trên Soi.today ngày 2/7/2013)

Sưu tầm từ nguồn khác:

1. Là hai họa sĩ cùng thời, Picasso lớn hơn Modi 3 tuổi. Picasso ưa cạnh tranh nếu không muốn dùng từ kiêu ngạo, ông luôn hăng hái thể hiện mình là số 1 của Ecole de Paris, trong khi Modigliani thì tính châm biếm chua cay hơn. (Ở đoạn đầu phim cùng tên, Modi hỏi Picasso: “Ông làm tình với cái khối lập thể thế nào? ‘(How do you make love to a cube?). Picasso thì luôn sống trong vinh quang, giàu sang, sống lâu, còn Modigliani thì thường bị ngèo khó và bệnh tật đeo đuổi, và chết trẻ. Mặc dù có sự khâm phục ngầm đối với Modigliani, nhưng Picasso cũng khoái khích bác và hay lôi Modi vào cuộc. Cả hai họa sĩ cũng đã từng vẽ nhau. Cả hai cũng đều có mối quan tâm với nghệ thuật Phi châu và có những ảnh hưởng trong các tác phẩm của mình. Đã có phim về chủ đề này, phim tên “Modigliani” (2004). Theo câu chuyện trong phim, vào buổi tối khi Modi chết, Picasso gửi lời chia buồn với Jeanne (nguời tình của Modi) và cô nói với Picasso rằng: khi nào ông chết, tên của Modi sẽ ở trên miệng ông. Và ở cảnh kết phim có ghi rằng đó là sự thực: khi Picasso chết, ông đã thì thào gọi tên Modigliani! (Các bạn có thể xem phim ở đây)

2. Modigliani không coi là mình bất hạnh. Bạn ông, Chaim Soutine từng hỏi: “Anh có phải chịu nỗi bất hạnh lớn lao nào trong đời không” thì Modigliani trả lời “không”. Còn theo lời kể của nhà điêu khắc Jacques Lipchitz, Amedeo Modigliani đã từng nói rằng chàng ước muốn “một đời sống ngắn ngủi nhưng mãnh liệt”.

Không thành công trong việc bán tranh lúc còn sống, chàng họa sĩ thường đùa rằng: “Tôi chỉ có mỗi một khách hàng mà ông ấy lại mù”. Người bị ám chỉ ở đây là nhà buôn tranh Père Angely.

Sau khi Modigliani chết, có hai đám tang đã được tổ chức, đám thứ nhất do một tu sĩ Do Thái cầu kinh và nhà danh họa bạc mệnh được chôn cất trong nghĩa trang Père Lachaise (Paris), còn đám thứ hai, đơn giản hơn, của người vợ xấu số, chôn bên ngoài thành Paris. Gia đình Hébuterne phản đối cuộc hôn nhân của con gái mình với một người Do Thái, nên đã không cho hai kẻ yêu nhau được an táng cạnh nhau. Tới năm 1923, người anh cả của họa sĩ Amedeo Modigliani là Thượng nghị sĩ Emmanuele Modigliani đã thuyết phục được gia đình Hébuterne cho cải táng di cốt của Jeanne và chôn bên cạnh người chồng bạc mệnh

Khi nào thức tỉnh ?

(15/9/2018) Vừa xem xong phim Son of Saul (con trai của Saul), một phim về diệt chủng Do Thái của đạo diễn Laszló Nemes Hungary, giải Oscar phim nước ngoài hay nhất năm 2016. Phim được đánh giá cao nhờ góc nhìn mới về một chủ đề cũ, cách tiếp cận và cách dẫn chuyện lôi cuốn.
Xem để thấy rằng một chế độ tàn ác bóp méo con người như nào, tước đoạt lương tri, trấn lột nhân phẩm và sinh ra những quái thai, những con người vô tri ra sao…
Sự tàn ác và khủng bố tinh thần đã gieo rắc nỗi kinh hoàng bóp nghẹt hơi thở của hàng vạn con người, làm biến đổi gương mặt họ, tâm trí họ, khi cảm xúc bị tê liệt họ hành động như cái máy, không suy nghĩ được gì ngoài vài phản ứng bản năng. Cuộc sống cứ thế trôi đi, những hy vọng sống sót le lói dù chỉ thêm được vài tháng, vài ngày, thậm chí vài giờ … cũng đẩy người ta hành động như những con rối . Một cựu tù nhân của Auschwitz từng nói: « chúng tôi lúc đó như con vật, không nghĩ gì được, chỉ cố gắng sao sống sót qua cơn ác mộng, và cố tìm cách thoát ra bên ngoài bằng mọi cách ».

Thật khó để so sánh với hàng chục phim cùng đề tài mình đã từng xem như : Cuộc sống tươi đẹp, Người chơi đàn dương cầm, Bản danh sách Schindler, Cậu bé mặc bộ pijama kẻ sọc, Shoah, Chuyến tàu cuối cùng tới Auschwitz…, bởi mỗi phim là một góc nhìn khác về Holocaust, một cách kể chuyện khác, một thông điệp khác . Khó nói phim nào hơn phim nào…
Chả hạn như trong phim Son of Saul, cảnh đầu cảnh cuối mình không có ấn tượng gì nhưng lại rất ấn tượng với một cảnh đoạn giữa, khi tên sĩ quan SS ra lệnh cho đội trưởng nhóm dọn xác phải đưa cho hắn bản danh sách loại ra 70 người trong nhóm, có nghĩa là 70 người trong đội đó sẽ phải chết vào ngày mai. Viên đội trưởng buộc phải ngồi xuống bàn và ánh mắt anh gặp ánh mắt Saul, một nhân viên làm việc trong đội, lúc đó đang phải dọn dẹp trong phòng. Trong một tình thế trớ trêu của cuộc sống, những ánh mắt không lời nào tả xiết …
Xem phim Con trai của Saul cũng để thấy , ngay cả trong những thời khắc kinh hoàng nhất, lương tri con người vẫn le lói âm ỉ chờ dịp bùng lên..

một cảnh trong phim Son of Saul

Hay ở đoạn kết của phim Cậu bé mặc pijama kẻ sọc, cảnh cuối là một cảnh gai óc, nơi có tiếng gào thảm thiết của người mẹ trẻ, có ánh mắt tê dại của người cha trong cơn tỉnh ngộ muộn màng… những giọt mưa nặng khói xám u uất rơi xuống mặt đất lầy lội bùn như những vũng máu khô quánh không gì cứu vãn …
Đông Tây gặp nhau trong cách nhìn về cái ác. Nhân quả có con đường đi của riêng nó . Sự thật có cách lên tiếng của nó, dù bị đàn áp.
Hãm hại người khác, cố tình làm tổn hại đến cuộc sống của người khác, cũng chính là một cách (dù gián tiếp) đẩy cuộc sống của con cái và gia đình mình vào nguy hiểm.

phân đoạn cuối trong phim The Boy in stripped pijama

Một cảnh nữa rất ấn tượng về đề tài này nằm ở phim Người Chơi đàn dương cầm của đạo diễn Ba Lan Polanski. Đó là cảnh gần cuối phim, khi nhân vật sĩ quan SS, trong giờ phút cuối của chiến tranh, mơ hồ nhận ra thiện-ác, đã có một hành động nhân đạo cung cấp thức ăn cho một người Do Thái trốn trên gác xép, trước khi quân Đồng minh tiến vào thành phố. Trong nỗi sợ hãi và áp lực đe doạ tính mạng, trong nỗi hoang mang và gần như tuyệt vọng về tương lai, giai điệu của hy vọng vẫn ngân lên dưới đôi bàn tay run rẩy của một con người đang chống chọi với đói, khát, lạnh lẽo, và với cái chết …
Người Do Thái sống sót này là nghệ sĩ piano, sau đó cố tìm lại viên sĩ quan kia để cảm ơn, nhưng đã không có cơ duyên gặp lại. Cảnh viên sĩ quan SS bị bắt, ngồi sau hàng rào thép gai trong trại tập trung, nhớn nhác tìm người cứu mình, nhưng đã muộn. Hình ảnh hàng rào mỏng manh mờ ảo trong ráng chiều chia ra một khoảng cách vời vợi giữa hai bên, giữa hai tư tưởng khác biệt. Làm hàng rào kẽm gai hoá ra cuối cùng để rào chính mình, và khi đứng bên trong đó, tất cả sự oai vệ quyền lực của một kẻ từng quyết định mạng sống hàng ngàn người khác cũng bay biến, chỉ còn lại sự thảm hại của một thân xác vô minh.

cảnh gần cuối trong phim Người chơi đàn dương cầm

Thế mới thấy tư tưởng con người quan trọng biết bao trong cuộc sống .
Nếu bạn nhầm lẫn một món hàng, bạn mất ít tiền. Nếu bạn chọn nhầm một nghề nghiệp, bạn có thể mất 5 năm. Cuới nhầm người, bạn có thể mất 10-15 năm. Nhưng nếu nhầm lẫn về tư tưởng, nó có thể dẫn người ta đi xa, rất xa, quá xa, thậm chí không tài nào trở lại được nữa…

Kể cũng hài, Hitler muốn tận diệt Do Thái và lập ra cái gọi là « giải pháp tối hậu về vấn đề Do Thái » và muốn thực hiện triệt để. Hàng triệu triệu đô la đã được đầu tư cho một hệ thống tàn sát khổng lồ khắp nước Đức và nhiều quốc gia bị Đức chiếm đóng lúc đó.
Tuy nhiên, Hitler không tài nào nhận được sự hợp tác triệt để như hắn mong muốn. Nhiều nước ở châu Âu trong đó có cả các nước còn chịu sự cai quản của Đức đã không thực hiện lệnh trục xuất người Do Thái như Hitler mong đợi : Đan Mạch, Bulgari, Phần Lan, Nauy, Ý, Bồ Đào Nha, Bỉ, Pháp, Ba Lan… những nước đã cứu mạng hàng trăm ngàn người Do Thái thoát khỏi cái chết. Và thậm chí cả trong lòng nước Đức trong cơn say huỷ diệt, vẫn có những dòng chống đối ngấm ngầm chờ cơ hội (phim Bản danh sách Schindller). Bởi vậy, kế hoạch tận diệt người Do của Hitler không bao giờ thực hiện đc, bởi « người tính không bằng Trời tính ». Hitler tự cho mình thông minh, nhưng lại ko hiểu đc điều cơ bản là những hành động phi nhân tự nó luôn sinh ra các năng lượng tiêu cực và sẽ quật lại chính chủ nhân của nó vào lúc « gần tới vinh quang ».

Tuy nhiên, phải nói luôn là trong danh sách những kẻ giết người nhiều nhất thế giới thì Hitler chưa phải đại gia, hic.. Mức độ khủng khiếp và tàn bạo vẫn chưa đua được với Mao Trạch Đông và Stalin. Những con số thông kê khiến người ta phải giật mình.
Theo các thống kê quốc tế, trong giai đoạn từ năm 1946 đến 1976, chính sách Đại Nhảy Vọt của Mao đã giết 70 triệu mạng, đưa Mao lên top đầu thế giới trong danh sách giết người. Tiếp bước là Stalin của Nga với tội ác sát hại khoảng 60 triệu mạng. Những hình ảnh lung linh của Hồng quân Liên Xô đã bốc khói ngay sau khi giải phóng Đức bằng các cuộc cướp bóc, hãm hiếp, trả thù… liên tiếp dẫn tới cái chết của hàng chục triệu người ở châu Âu, giúp Stalin đứng hàng thứ hai trong danh sách quái vật ăn thịt người, trên cả Hitler (17 triệu mạng) !!! Dân Do Thái, Nga, Đức, Ba Lan… kể cũng khổ, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, vừa thoát nạn Đức quốc xã lại sa vào lưới của Stalin. Các trại tù khổ sai do Stalin lập nên để hành hạ con nguời cũng chỉ thua Hitler chút xíu . Kết thúc thì đều là cái chết !

Khi nào thì con người ta thức tỉnh ? Chỉ khi gần thua ? Chỉ khi sắp bại ?
Hitler, Stalin có thức tỉnh trước khi chết ?

Chợt nhớ tới bài hát nổi tiếng « Blowing in the wind » của Bob Dylan từ thập niên 70 :
Cần có bao nhiêu tai để nghe thấy tiếng kêu khóc ?
Cần đi qua bao nhiêu con đường để được gọi là Con Người ???

…….

Nửa thế kỷ trước, những lời này đã vang lên, vang lên …

Những câu quote yêu thích

  1. Ảo tưởng là thức ăn của Tình yêu – Victor Hugo
  2. Nền không chắc mà tường cao thì sự sụp đổ nằm sẵn nơi đó rồi (khuyết danh)
  3. Ghen ghét thường gây tai họa cho bản thân hơn là cho người bị ghen ghét (Alexandre Dumas)
  4. Thời gian không đo lường bằng năm tháng mà bằng những gì chúng ta làm được (H.Cason)
  5. Quả trên mặt đất mọc lên nhờ những thứ thối rữa dưới mặt đất (Charles Dickens)
  6. Con người sở dĩ bất hạnh vì con người ở trong phúc mà không biết đấy là phúc. ( Dostoevsky)
  7. Ở những nơi nhiều dục (kể cả sắc dục lẫn các loại dục vọng), ma quỷ tụ rất đông. Dục tăng thì phước giảm. (V)
  8. Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất. (Platon)
  9. Trước khi bao dung thì hãy trung thực đã (Winston Churchill)
  10. Đạo Trời không tranh mà khéo thắng ( Lão Tử)
  11. Bất cứ ai cố gắng kéo bạn xuống đều ở phía dưới bạn. (st)
  12. Khi bầu trời tối đến một mức độ nhất định, các vì sao sẽ tỏa sáng (st)
  13. Phú quý lòng hơn phú quý danh (Nguyễn Trãi)
  14. Tình yêu là một tuyệt tác của Thượng đế. Lừa tình là một công trình vĩ đại của loài người (st)
  15. Chúng ta nắm giữ vận mệnh của chính mình chứ không phải các vì sao (William Shakespeare )
  16. Điều đếm được không nhất thiết đáng kể; điều đáng kể không nhất thiết đếm được (Albert Einstein)
  17. Bí quyết để sống hạnh phúc là biết chờ đợi hạnh phúc của mình (H.Riviere)

18. Sự ngắn gọn là linh hồn của trí khôn sắc sảo (Shakespear)

19. Nếu bạn muốn tìm ra các bí mật của vũ trụ, hãy suy nghĩ về khía cạnh năng lượng, tần số và sự rung động. (Nicolas Tesla)

20. Niềm vui sang trọng nhất là niềm vui của sự hiểu biết (Leonard da Vinci)

21. Tất cả nghệ thuật là ở chỗ làm sao giữ được sự cân bằng, chứ quá lên là nguy – Nguyễn Huy Thiệp