Trang moi

« Thiên thần gẫy cánh » của Picasso

Trên một nền xanh da trời mơ mộng, Picasso vẽ một người đàn ông nằm chổng mông, trông như một thiên thần vừa bị ngã sấp mặt xuống đất. Đôi mắt mở thao láo trên cái đầu đang quay nhìn « phần đuôi » của mình một cách ngu ngơ, kiểu « sao thế nhỉ » 😅.
« Thiên thần » có vẻ khá vất vả vì sự  nặng nề của anh ta, với chân tay thô kệch và những thứ « của nợ »  phơi ra rất siêu hiện thực 😎. Anh ta liệu bay nổi với những thứ vướng víu có sức trì kéo đó không ? Anh ta như đang loay hoay nên trở thành thiên thần hay cứ làm một con thú trần trụi bản năng ?  Một bài trên tạp chí mỹ thuật từng mỉa « con thú hoang » khi nói về nhân vật này của Picasso 😎
Bức tranh có tông dịu nhẹ nhưng lại toát lên sự giằng xé giữa hai thế giới: mộng mơ và đời thực. Một bức tranh hóm hỉnh nhưng sâu sắc. Một bức hiếm hoi và không hề nương tay hơn khi ông vẽ phụ nữ 😉

Picasso vẽ bức này vào giai đoạn cuối, khi ông đã quá trải đời, hiểu về con người, nhất là đàn ông. Giới nghiên cứu mỹ thuật đều biết ông mắc hội chứng sợ phụ nữ (vừa thích nhưng vừa sợ 😜), nên tranh vẽ các bà các cô là ông hay băm ra « cho bõ ghét ». Điều này thể hiện khá rõ qua bức Những cô gái vùng Avignon. Còn mấy bức ổng vẽ các cô bồ thì thôi rồi, luôn với cái nhìn sắc nhọn lột tâm can người mẫu.. Bởi vậy bức « Người đàn ông khỏa thân nằm » (L’homme couche’ nu – 1971) này quả là một bức hiếm hoi ông vẽ mẫu nam. Rất Picasso, rất sắc nhọn và hóm hỉnh nhưng cũng rất nhân văn.

Gauguin: Ảo ảnh sau bài thuyết giảng- bí ẩn và đầy hình tượng.

Như một đàn ngỗng trắng, những chiếc mũ vải của các thôn nữ viền bóng đầy đặn trên nền đỏ rực của quang cảnh. Một thân cây cong queo ngăn cách họ với hai đấu sĩ chân trần. Chiếc áo choàng ôm lấy thân hình mảnh khảnh, đôi cánh gắn sau lưng như tiết lộ họ thuộc hai giáo dân thiểu số. Đối diện, bên trái, một chú bò non đang bước uyển chuyển. Bức tranh có tựa đề Ảo ảnh sau bài thuyết giảng hay Cuộc đấu của Jacob với thiên thần. Gauguin vẽ vào tháng 8-9 năm 1888 trong lần lưu trú thứ hai ở Pont-Aven. Trốn đi, hãy trốn ở đó …

Sinh ở Paris, Paul Gauguin (1848-1903) luôn ước thoát khỏi đó. Ngay từ khi ở Lima với người chú quý tộc, ông đã lưu giữ những ký ức kỳ lạ và tuyệt vời. Rồi với tư cách thuỷ thủ hàng hải, ông đi vòng quanh thế giới. Năm 1886, ông lưu trú lần đầu tại Pont-Aven. Bretagne là một vùng có phong cảnh khắc khổ và nguyên sơ, cuộc sống còn khá rẻ, một vùng đất huyền thoại thu hút các nghệ sĩ. « Tôi yêu Bretagne, » ông viết – tôi tìm thấy ở đó sự hoang sơ, tính nguyên thủy ». Sau thời gian lưu trú tại Martinique năm 1887, nơi bảng màu của ông ngập tràn sắc màu rực rỡ, Gauguin trở lại Pont-Aven vào năm sau đó.


Để tách tôn giáo khỏi thực tế, Gauguin đã vẽ một nền đỏ sậm. Một màu đỏ mộng mị, màu đỏ huyền bí xóa bỏ phối cảnh và đưa chúng ta đến với siêu nhiên.

Ảo ảnh sau buổi thuyết giảng thể hiện phong cách mới của ông. Gặp gỡ ở Bretagne, Émile Bernard đã động viên khi ông đang từ giã những mảnh ghép cuối cùng của phái Ấn tượng. Trong bức Những thôn nữ Breton trên đồng cỏ, có vẻ như có trước bức La Vision không lâu, trong sự kết hợp với Louis Anquetin, ông đã mở đường cho cái sau này được gọi là phong cách tổng hợp và thuyết nhân bản. Thuật tráng men, phổ hình, kính màu, khắc gỗ Nhật Bản là nguồn gốc của bước phát triển này. Từ đây, Gauguin xử lý màu sắc trên các mặt phẳng, phác hình bằng những đường liền mạch xóa bỏ phối cảnh. Trong khi chủ nghĩa nguyên sơ của Bernard đứng vững trên mặt đất, rắn rỏi và phàm tục, thì Gauguin theo bản năng hướng về tôn giáo, bí ẩn và đầy hình tượng.

Albert Aurier không nhầm, người đã dành một bài dài năm 1891 về chủ nghĩa biểu tượng trong hội họa cho bức Vision après le sermon. Isabelle Morin Loutrel, người phụ trách tại bảo tàng Orsay, đồng giám tuyển của triển lãm Beyond the Stars, cho biết: « Aurier đã coi tác phẩm này như biểu tượng của chủ nghĩa tượng trưng. » Gauguin vẽ một mặt hiện thực, mặt khác là viễn cảnh cuộc đấu tranh của Jacob với thiên thần, trong một bối cảnh tinh thần. Nhu cầu tâm linh xuyên suốt khung cảnh như trong mơ này. Trong một bức thư gửi Van Gogh, họa sĩ giải thích rằng «cảnh quan và cuộc đấu tranh chỉ tồn tại trong tâm trí khi người ta cầu nguyện sau bài thuyết giảng« , ở đó có sự tương phản và độ vênh giữa tập hợp tự nhiên và cảnh tượng «phi tự nhiên».


Kinh thánh kể rằng Jacob bị trật khớp hông trong cuộc vật lộn với vị khách bí ẩn ban đêm. Gauguin làm phong phú thêm tầm nhìn của mình với việc quan sát trực tiếp các đô vật trẻ Breton.

Aurier cũng mô tả bức tranh: “Xa xa, trên một ngọn đồi với đất nền đỏ son hiện ra hoành tráng, nơi diễn ra cuộc chiến trong Kinh thánh của Jacob với thiên thần. Trong khi hai người khổng lồ huyền thoại, mà khoảng cách biến họ thành tí hon, chiến đấu trong cuộc chiến dữ dội của mình, những người phụ nữ đứng nhìn […]. Họ tỏ thái độ tôn trọng và những khuôn mặt biểu cảm của tạo hóa đang đơn giản lắng nghe câu truyện cổ tích phi thường […]

Vẻ đẹp mộc mạc của những phụ nữ thôn quê Breton, những trang phục tuyệt vời của họ trở thành một trong những họa tiết yêu thích của họa sĩ ở Pont-Aven, khi ông đã mệt mỏi với sự màu mè của đô thị. Gauguin nói rằng ông đã đạt được trong tác phẩm này « tính mộc mạc đồng quê và thành tín tuyệt vời« . Sự thô ráp của khuôn mặt làm tăng hiệu ứng bí ẩn của cảnh, trong con mắt của những người thành tín.

Trích từ kinh Sáng Thế, chủ đề thường được các nghệ sĩ thể hiện từ thời trung cổ. Gauguin có lẽ đề cập đến bức tranh lớn của Delacroix trong nhà thờ Saint-Sulpice. Nhưng nó cũng bao hàm các đấu vật sumo của Hokusai và nhiều điều ở Bretagne. Cuộc đấu truyền thống của người Breton đã truyền cho ông cảm hứng vẽ một bức tranh vài tháng trước đó.

Bức tranh đã châm ngòi cho một cuộc chiến khác, một cuộc bút chiến. « Émile Bernard trách Gauguin đã bắt chước phong cách và bố cục của bức Những người phụ nữ Breton trên đồng cỏ » – Claire Bernardi, người phụ trách tại Musée d’Orsay, giải thích. “Càng rời xa phong cách tổng hợp, ông ấy càng có vẻ gay gắt với Gauguin, thậm chí tuyên bố đã phát minh ra phong cách này, và chỉ trích dẫn bức La Vision apres le sermon. Bài báo của Aurier khiến ông nổi giận. Gauguin đã định dâng bức tranh của mình cho nhà thờ Pont-Aven, nhưng sau đó ông lại mang đến nhà thờ làng Nizon. « Tôi đã vẽ một bức tranh cho nhà thờ, tự nhiên nó bị từ chối, » ông ngắn gọn. Sự táo bạo và tính thần bí với màu sắc của lửa khi đó, « dĩ nhiên », không thể chấp nhận được. Nhất là trong một nhà thờ …

dịch từ Connaissance des Arts

« Tự do tình dục » là một trong những cụm từ ngu xuẩn nhất. Thằng nào nghĩ ra và cổ vũ cho ý tưởng đó không khốn nạn cũng thần kinh. Tự do và dục vọng là hai thứ không đi nổi với nhau về bản chất. Một cái bẫy khổng lồ với những lân tinh ảo giác ma quái lôi kéo con người sa vào chốn tăm tối, lẫn lộn, trói chặt họ trong mớ năng lượng bùng nhùng của đầm lầy hoang. Tự do kiểu gì ? Con người chỉ nhận biết khi thảm hại lết ra khỏi vùng nhớp nhúa ê chề đó, khi cả cơ thể và tinh thần đã tàn tạ sau những cú đánh thâm hậu của nó. Thế giới vẫn chứng kiến bao kẻ bán cả sự nghiệp, gia tài, danh dự.. thậm chí cả linh hồn chỉ vì một cục thịt thối giữa hai chân. Tự do tình dục chủ yếu cổ vũ cho tình dục bừa bãi vô ý thức, chỉ khiến xã hội rối loạn và sinh ra một thế hệ đần độn ngu muội ..chứ hay ho với tiến bộ cái cm gì như cách mấy thằng ngu vẫn thao thao rao giảng, hòng vẽ ra những khái niệm để lấp liếm thói bệnh hoạn biến thái của chúng 🤮 Thế giới có hỗn loạn, khủng hoảng hay tụt hậu.. phần lớn cũng do kiểu tư duy cổ vũ cho dục vọng thấp hèn này.

Thật kinh ngạc, lời dạy của Chúa Giê-Su với các môn đồ ngay hồi thế kỷ thứ nhất: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha – đấng ngự trên trời- ban thưởng. Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh. Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh”.
Điều này cũng trùng khớp với những lời dạy của đức Phật (hơn 2500 năm trước) về hạnh bố thí: hạnh bố thí nên được thực hiện với tấm lòng rộng rãi, với tất cả tấm lòng « vì người quên mình », với lòng từ bi, cung kính, không cầu danh lợi, không cầu báo đáp, không vì hơn thua, không mê hoặc lòng người, không chọn lựa món xấu đem cho, món tốt giữ lại, tức là không trụ sắc; cho rồi không cần nghe lời khen, tiếng cám ơn, tức là không trụ thinh, .. và của đem bố thí phải thanh tịnh, chơn chánh.. Đó chính là sự bố thí thanh tịnh trong sáng, nên trong kinh sách gọi là « bố thí ba la mật ».

Hành trình của nhân loại…

Không thể phủ nhận, lịch sử nhân loại là lịch sử chứa nhiều bạo lực. Song song với những khám phá, phát minh phục vụ đời sống hàng ngày, con người cũng phát triển chiến tranh ngày một hiện đại, tinh vi hơn.. Từ thời tiền sử đến thời cận đại, từ việc sử dụng gậy chông, nỏ tre, hòn đá rồi đến cung tên, giáo mác, hệ thống bắn tên gắn lửa.. cho tới việc chế ra thuốc súng, đạn dược, đại bác … và giờ là bom nguyên tử, bom hạt nhân, vũ khí sinh học..
Từ chiến tranh thô sơ giết vài người lẻ tẻ hay một nhóm người cho tới chiến tranh hiện đại với bom đạn tên lửa giết hàng loạt người cùng lúc, và chiến tranh kỹ thuật số, chiến tranh tàng hình có khả năng phá huỷ từ xa; con người đã đi một chặng khá dài trong quá trình phát triển về vật chất và hình thức, nhưng về nhận thức thì chưa thể gọi là văn minh. Việc giết chóc về bản chất cũng không khác mấy thời nguyên thuỷ.

Thời đồ đá, phát minh quan trọng nhất là tìm ra lửa. Lửa lúc đó như một quà tặng của Thượng Đế giúp con người xua đuổi thú dữ và chế biến thức ăn, cho con người sức mạnh để sống sót và phát triển, sinh sôi. Nhưng cũng vì sinh tồn, con người đã sớm dùng lửa để chế tạo vũ khí, không chỉ để bảo vệ cuộc sống của mình chống thú dữ, mà còn để cướp thức ăn của bộ lạc khác khi cần.

Khảo cổ học đã ghi nhận cuộc giết chóc đầu tiên giữa các bộ lạc vào khoảng 5000 năm trước công nguyên, tại Talheim (Đức). Đây có thể xem như hình thái chiến tranh đầu tiên-chiến tranh bộ tộc, với cuộc thảm sát tập thể kinh hoàng. Vào năm 1300 trước công nguyên, tại thung lũng Tollense (Đức), những dấu vết và bằng chứng khảo cổ thu được cho thấy các dấu hiệu đầu tiên của dạng chiến tranh hiện đại có tổ chức, với số lượng lên đến 4000 người từ khắp châu Âu..

Từ chiến tranh thô sơ, chiến tranh vì sinh tồn, vì miếng ăn, sinh mạng.. con người dần tiến đến các loại chiến tranh khác ngày một phức tạp. Từ con đường tơ lụa, chiến tranh thuốc phiện, chiến tranh Đông dương, chiến tranh thế giới 1-2 … ngày nay, chúng ta chứng kiến các cuộc chiến do mâu thuẫn tôn giáo, xung đột hệ tư tưởng đang diễn ra.
Con người còn giết chóc nhau đến bao giờ ? Không có chiến tranh, con người đã phải đối đầu với thiên tai, bệnh tật, tai nạn.. và nhiều vấn đề khác trong xã hội. Chiến tranh thường chỉ có lợi cho một nhóm người nào đó.. Trong khi các cuộc chiến chưa phân thắng bại, cổ phiếu các công ty cung cấp vũ khí đã tăng ầm ầm. Chúng ta nên đặt câu hỏi ở đây. Vì sao các phát minh về công nghệ kỹ thuật số, trí thông minh nhân tạo (A.I) đã tiến khá xa nhưng nó lại tập trung vào các ngành phát triển vũ khí, thiết bị quân sự nhiều hơn hẳn các ngành phục vụ đời sống con người, chả hạn như chăm sóc sức khoẻ, năng lượng sạch, nghệ thuật…?
Quyền lực luôn tập trung vào tay kẻ mạnh nên sinh ra các cuộc chạy đua vũ trang ? 😎
Lịch sử đã chứng kiến những cuộc đối thoại thành công tránh được bao máu đổ. Tuy nhiên, đối thoại vẫn là một công việc khó khăn của nhân loại từ ngàn đời nay. Khi đối thoại không thành, súng sẽ nổ, máu sẽ rơi…Cả thế giới đang hy vọng vào cuộc đàm phán sắp tới giữa Nga và Ucraina, hy vọng một cuộc chiến vô nghĩa sớm chấm dứt.

Nhìn lại lịch sử, các cuộc sát nhập đất đai lãnh thổ cuối cùng cũng kết thúc bằng sự phân tán tự nhiên. Từ Thành Cát Tư Hãn của Mông Cổ cho tới Alexandre Đại Đế, La Mã, rồi Napoleon, Hitler… các cuộc xâm chiếm với mục đích « thống nhất » đều kết thúc bằng việc các nước lại chia tách ra, tìm độc lập cho riêng mình. Vậy giết nhiều để làm gì ??? mọi con đường đều dẫn tới Rome đâu còn đúng nữa ?
Vài cảm nghĩ sau khi xem Origins – The journey of Humankind – Hành trình của nhân loại trên kênh National Geographic (27/2/22)

Khổ thân con hàu, bình thường sống được 400 năm mà gặp con nguời thì tèo trong nốt nhạc. Đi vào ruột người, nuôi con người được may ra vài chục năm bèo bọt khổ đau…
Những con sống lâu nhất toàn là các con dưới nước, nơi con nguời khó tiếp cận. Chúng linh họat và có hệ sinh thái riêng. Mấy con trông lù rù xấu xí, chậm chạp, ít di chuyển.. là những con sống cả ngàn năm lận. Những con biến hoá, giỏi ẩn và thịt đắng như con sứa có thể còn bất tử luôn 🙂
Mấy con trên cạn là bị xơi gần hết roài 🙂 Nhất là mấy con thích khoe thích phô như hổ báo sư tử, chúa này chúa nọ, kể cả trời cho khả năng về sức mạnh và tốc độ chạy nhanh nhất quả đất thì cuộc sống cũng ngắn, thậm chí có thể còn ngắn hơn cả một con ruồi.. hehe… Còn bọn tắc kè với bươm bướm thì thôi, không thèm kể 😉
Xem ra mấy con sứa và san hô là những con sướng nhất quả đất. Nó không cần tiền, không cần FB, không cần Netflix, Ipad, smart phone … Nó không bao giờ bận tâm việc đóng thuế, khai thuế, thị trường chứng khoán lên xuống hay giá vàng tăng giảm … Không bao giờ chịu áp lực chiến tranh, động đất, bệnh tật, corona, thất nghiệp, lạm phát…, không băn khoăn về tình bạn tình yêu, các tệ nạn xã hội… Khả năng sinh sản vô tính còn giúp nó chả cần gái mông to, trai sáu múi hay selfie ba lăng nhăng làm gì… Nó luôn ở đó, không bao giờ chán hay cô đơn. Không bao giờ cần nói dối, xã giao hay lấy lòng bất cứ ai.. 😀 Xem ra nó là sinh vật tự do nhất hành tinh 😀