Một nghiên cứu mới đây ở Michigan (Mỹ) cho thấy sự khác biệt lớn giữa cách đàn ông và phụ nữ đánh giá các tác phẩm nghệ thuật . Đàn ông thường chú trọng vào giá trị khởi đầu và nền tảng của họa sĩ, trongkhi phụ nữ lại chú ý hơn đến chính bản thân tác phẩm. (13/10/2014)
tranh « Những cuộc chia tay » (Paul Delvaux -1945)

ĐÊM ĐẦY SAO…

“Con hãy nhìn xem, có cả một thế giới khác đang ở trên kia, những thứ chúng ta có thể nhìn thấy nhưng không hiểu được! « – người đưa thư nói với con trai ở cuối phim Loving Vincent.
Trời cho Vangogh tài năng tuyệt vời, và Trời cũng lấy đi không ít thứ của ông, đinh ninh rằng những thứ đó sẽ giúp ngưòi đời bớt ghanh ghét ông hơn ?
Ở đời, làm người đã khó, đã khổ. Làm họa sĩ còn khó hơn, khổ hơn.
Trời cho tài năng, cho cảm xúc thì mấy ai hiểu lúc đương thời ? còn bị coi như những kẻ điên, những kẻ có vấn đề tâm thần hoặc bị ghanh ghét, đố kỵ … Chết rồi người ta mới ca ngợi, tranh bán hàng triệu đô thì người khác hưởng ! Lúc sống thì cô đơn kinh luôn. Giờ mình hiểu sao bố mình đã không ủng hộ mình trở thành họa sĩ 🙂
Câu chuyện của Vangogh khiến mình nhớ tới vị vua trẻ ở lâu đài Neuschwanstein. Đó là một lâu đài nguy nga sừng sững trên núi vùng Bavaria. Vị vua chết trẻ khi lâu đài chưa hoàn thành. Thời đó sử sách nói vị vua bị điên, bị tâm thần, đã nhảy hồ tự tử … Ngày nay thì người ta nhìn nhận khách quan hơn rằng vị vua trẻ có thể bị trầm cảm do áp lực về quyền lực và các xung đột tư tưởng… Mình có nói chuyện với một số người Đức về vấn đề này thì họ bảo thời đó người ta còn chưa biết đến bệnh trầm cảm, nên tất cả bị dồn vào một thứ : bị điên !
Đây cũng từng là bi kịch của nhiều tài năng trong lịch sử: của Camille Claudel (người tình Rodin), của Théo em trai Vangogh, của Gauguin, của Goya, của Munch … vv…

Cái chết của Vincent đến giờ vẫn là câu hỏi to tướng : nếu Vangogh tự tử thì khẩu súng sao không tìm thấy ??? những con quạ đen trong bức tranh cuối cùng của Vangogh đã có thể nhìn thấy điều gì đó, nhưng chúng đã không thể nói !!! Cơm áo không đùa với khách thơ, và trái tim mẫn cảm của một nghệ sĩ cũng khó sống được với những trò đùa ác, sự ngu dốt của con người …
« Những ánh sao kia luôn làm anh mơ ước « – Vangogh viết trong lá thư cuối cùng gửi em trai Théo. « Có thể chúng ta chết để vươn tới một vì sao ở đó « .
Nỗi buồn là mãi mãi ! – Vincent nói lời cuối cùng trước khi nhắm mắt trong căn phòng màu xanh ở Arles, miền nam nước Pháp khi mới 37 tuổi.
Bộ phim Loving Vincent (bản tiếng Việt dịch là Vincent thuơng mến) được vẽ tay bởi nhóm hơn 100 họa sĩ Balan, theo phong cách của Vangogh. Kể câu chuyện bằng ngôn ngữ của Vangogh, như một lời tri ân ♥ ♥ ♥ (5/5/2018)

Đêm đầy sao trên sông Rhone – Vincent Vangogh (1888)

TÌNH YÊU SẼ TRỞ LẠI THEO MỘT CÁCH KHÁC !
Khi đã 40 tuổi, nhà văn Franz Kafka (1883 – 1924) vẫn chưa kết hôn hay con cái gì, ông đang tản bộ trong công viên ở Berlin thì thấy một bé gái đang khóc vì lỡ đánh mất con búp bê yêu dấu. Kafka cùng cô bé tìm con búp bê nhưng không thấy đâu cả. Kafka đành hẹn cô bé gặp nhau ở chỗ cũ vào ngày mai để tìm kiếm thêm.Ngày hôm sau, tìm mãi mà chẳng được, Kafka nghĩ ra cách đưa cô bé một lá thư « được viết » bởi con búp bê với nội dung « Xin chị đừng đau buồn, em đang chu du đi khắp thế giới chị ạ. Em sẽ viết thư gửi chị kể về hành trình phiêu lưu của em nhé. »Vậy là những câu chuyện phiêu lưu được kể qua thư cứ tiếp nối nhau mãi, cho đến khi Kafka sắp qua đời.Trong tất cả những lần gặp gỡ, Kafka đều lấy ra một lá thư mới, đọc cho cô bé nghe về những chuyến phiêu lưu kì thú của con búp bê và khiến cô bé thấy rất vui vẻ.Cuối cùng, khi bệnh lao phổi trở nặng, Kafka mua tặng cô bé một con búp bê mới và nói rằng nó đã trở về nhà sau hành trình quanh thế giới. »Sao nó chẳng giống con búp bê của cháu tí nào cả, » cô bé thắc mắc.Sau lưng con búp bê được đính kèm một lá thư, trong đó viết: « Những chuyến phiêu lưu đã thay đổi em chị ạ. » Cô bé liền vui sướng ôm chầm lấy con búp bê và hạnh phúc trở về nhà.Một năm sau, Kafka qua đời.Nhiều năm sau, cô gái nhỏ giờ đã lớn, trong lúc dọn dẹp đống đồ chơi, cô tìm thấy một bức thư nhỏ xíu ký tên Kafka ở bên trong con búp bê. Trong đó viết: »Những thứ cháu yêu quý có thể sẽ mất đi, nhưng sau cùng thì, tình yêu sẽ trở lại với cháu theo một cách khác. »
ST.

FRIDA – DIEGO, những ngừoi tình của hội họa

Vừa hút vừa đẩy, Frida và Diego là một cặp bí ẩn trong giới nghệ thuật.
Mối tình của Diego và Frida ở Mexico có vẻ giống như đất, như nhịp điệu 4 mùa, như những trái gió của thời tiết và văn hóa” – nhà văn J.M.G.Le Clézio từng viết. Frida Kahlo (1907-1954), nữ họa sĩ nổi tiếng với những bức tự họa không khoan nhượng, sau khi mất đã trở thành một biểu tượng (như Đức Mẹ Đồng Trinh của Guadalupe). Còn Diego Rivera , niềm tự hào của dân tộc về mảng tranh tường và tranh cổ động, sinh năm 1921 vào ngày hôm sau của cuộc cách mạng Mexico. Cả hai tạo thành một cặp bí ẩn mà lịch sử nghệ thuật phát sốt.
Chính ở Mexico, họ đã yêu nhau, căm thù nhau, lừa dối, cắt đứt, xa rời, và rồi lại tìm thấy nhau.
Đất nước 22 triệu dân này ngày nay vẫn lưu giữ những kỷ niệm về chuyện tình xôn xao của cặp đôi nghệ sĩ đặc biệt này.
La Casa Azul: căn nhà thời thơ ấu của Frida sau này Diego làm thành bảo tàng.

Trong khu dân cư cổ kính Coyoacan, phía Nam Mexico, cách đây hơn thế kỷ, cuộc sống rất ổn. Bố của Frida- một nhiếp ảnh gia người Đức, tới Mexico và dựng căn nhà nhỏ trong một khu vườn đầy hoa giấy, hoa cam và hoa xương rồng. Một thiên đường bình yên bên trong những bức tường xanh da trời, nơi đây Frida đã sinh ra, và chết.
Ban đầu cô sống một mình, sau sống với Diego, cũng là nơi đón tiếp gia đình, bạn bè , các nghệ sĩ, nhà thơ… Sau khi vợ mất, Diego đã biến căn nhà thành bảo tàng, nhưng vẫn giữ được hồn cốt của một ngôi nhà mà không bị biến thành kiểu như lăng mộ. Những kỷ niệm, từng vật nhỏ minh chứng sự hiện diện của Frida : những lá phiếu cũ kỹ, những tượng nhỏ thời kỳ tiền Colombia, ảnh, búp bê, ký họa và tranh…Không có những tác phẩm khủng ở đây, nhưng những hình ảnh nói lên tất cả . Như là bức tĩnh vật về dưa hấu, bức tranh cuối cùng của cô, khi tình trạng sức khỏe đã trở nên rất tệ. Tác phẩm của Frida kết nối với cuộc sống của cô một cách kín đáo. Một cuộc sống khó khăn nhưng không tăm tối: mẹ cô bị trầm cảm và đã phó thác cô cho một bà vú ngiện ngập, nên tới 7 tuổi cô mắc bệnh bại liệt, nguyên nhân gây ra tai nạn năm 18 tuổi khiến cô bị thủng bụng và không bao giờ có con được nữa. Phải nằm liệt giường, cô bắt đầu vẽ bằng một hệ thống gương chiếu và chiếc giá vẽ gắn vào giường, cô bắt đầu những bức chân dung tự họa đầu tiên. Tổng số cô đã vẽ khỏang 50 bức.
Những con thú bị thương, người phụ nữ trong trang phục Ấn độ, da bị cắt đôi : mỗi một hình ảnh của cô gợi tới những nỗi đau vừa từ thể xác , vừa từ cả Diego, người tình ma mị. Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại của Mexico dựng hình tượng cô vừa như một người vợ bị phản bội, vừa là một phụ nữ độc lập và quyết đóan. “Trong đời, tôi từng là nạn nhân của 2 tai nạn nghiêm trọng. Một cái là do xe búyt đâm tôi ngã. Cái kia là do Diego”- cô viết trong nhật ký của mình.

Vì lý do thể chất, Frida chỉ vẽ tranh khổ nhỏ, trái ngược với Diego thường thực hiện những tranh lớn trên nhiều bức tường ở Mexico. Năm 1921, sau 10 năm nội chiến , bộ trưởng Bộ Giáo dục đã quyết định dành những không gian công cộng cho các nghệ sĩ thể hiện sự ca ngợi với cuộc cách mạng. Diego Rivera nhanh chóng tiên phong trong công việc này. Ông bắt đầu làm việc tại San Ildefonso, trường nổi tiếng của các trí thức ở Mexico. Trong số đó, có một phụ nữ trẻ tên là Frida Kahlo, thành viên của nhóm Cachuchas, nhóm này không ngại vác cả bức tượng khổng lồ vào giảng đường lớn của học viện. Diego khi đó đang làm việc trên dự án câu chuyện ngụ ngôn về bản sắc Mexico và đạo đức cách mạng. Tác phẩm này của Diego tới nay vẫn còn ở đó. Đó là nơi mà Frida và Diego gặp nhau lần đầu tiên, mặc dù cuộc gặp gỡ định mệnh mấy năm sau mới thực sự diễn ra tại nhà của nhiếp ảnh gia Tina Modotti. Sau đó, hai người cưới nhau tháng 8 năm 1929, đám cưới giữa “một con voi và một con chim cu đất”, như cách tả của mẹ Frida. Bà luôn lo sợ về người đàn ông hơn con gái mình “20 năm, 20 kg và 20 cm” này.
Người ta vẫn rỉ tai nhau về câu chuyện của cặp đôi đặc biệt này, về những vụng trộm của Diego, những cuộc phiêu lưu đồng tính của Frida. Trong khi cả hai nghệ sĩ lại luôn ngưỡng mộ nhau. Ngay từ đầu, Diego đã khuyến khích Frida vẽ. Thú vẽ được nuôi dưỡng bởi Diego, cô thường kể về chồng mình như về một người tình, một người bạn, người cha, con trai , vị hôn phu, vũ trụ của cô…, trong khi Diego , ngược lại, chả bao giờ có cảm hứng đưa cô vào những tác phẩm của mình.

Chân dung tự họa đeo vòng cổ và một chú khỉ, vẽ năm 1938, sơn dầu trên vật liệu masonite, 40 x 30.5 cm. Ở đây, Frida được thể hiện có vẻ thản nhiên và quyết đóan giữa một thiên nhiên rất Mexico. Đôi lông mày giao nhau của cô giống như một cánh chim, thể hiện sự tự do. Chiếc vòng cổ biểu tượng cho sự gắn bó với đất nước và Diego.

Ở Mexico, người ta vẫn còn do dự về thành công của Frida trên trường quốc tế . Nhiều người chỉ xem cô như vợ của Diego. “Đối với Frida, Diego là nguồn sống của cô. Còn đối với Diego, vẽ mới là cuộc sống của ông” – Adriana Garcia của Bảo tàng Dolores Olmedo tóm tắt. Bảo tàng này mang tên của nguời bảo trợ chính cho Diego, một phụ nữ quan hệ khá rộng. Di sản khổng lồ của bà giờ được bày cho công chúng chiêm nguỡng, gồm phần lớn các bức họa của Diego (gần 150 bức), nhưng cũng có cả những sưu tập các bức vẽ quan trọng nhất của Frida (26 bức) sau khi cô mất. Những bức tranh tường cuối cùng của Diego được để trong một ngôi nhà khác của Dolores ở Acapulco, nơi cũng được chuyển thành bảo tàng, và mới mở cửa cho công chúng từ cuối năm 2014. Ở Mexico, nơi người ta dễ bị lạc, tất cả các con đường đều dẫn tới Diego . Tại Cung điện quốc gia, ông đã thực hiện một tác phẩm khổng lồ trải dài tòan bộ lịch sử Mexico, từ thời tiền sử cho tới cách mạng 1910, dĩ nhiên là không quên cuộc chinh chiến xương máu với Tây Ban Nha và cuộc chiến độc lập kéo từ 1810 đến 1821. Cách đó cũng không xa, tại Viện Mỹ Thuật, mọi người cũng có cơ hội xem thêm các bức tranh tường khác của Diego. Một cách khoa giáo, như thường thấy, họa sĩ tố cáo các tệ nạn của chủ nghĩa tư bản, đối lập với sự bao dung của thế giới xã hội chủ nghĩa, bằng một bức chân dung Lê nin khá ấn tượng. Sau một cuộc tranh cãi, bức tranh cuối cùng đã bị hủy.
Trong khi đó, tại bảo tàng tranh tường Diego Rivera, trưng bày bức tranh Giấc mơ một chiều chủ nhật trong công viên Alameda, một bức tranh sử sống sót sau vụ động đất năm 1985. Ngoài ra còn nhiều nơi khác khá bất ngờ ở Mexico cũng hiện diện những tác phẩm của Diego, như chợ Abelardo Rodriguez, nơi Diego đã vẽ năm 1934 một bộ 10 tranh tường về chủ đề bản sắc Mexico.
Một địa chỉ không thể không nhắc tới khi nói về cặp đôi Frida-Diego chính là ngôi nhà chung của hai nghệ sĩ ở khu San Angel, được xây dựng bởi kiến trúc sư Juan O’Gorman, đệ tử của Le Corbussier, theo yêu cầu của Rivera. Diego và Frida dọn đến ở sau khi từ Mỹ về năm 1933. Ngôi nhà được hợp thành từ 2 khối màu sắc được nối bởi một cái cầu. Một khu màu đỏ rộng rãi sáng sủa làm xưởng vẽ cho ông. Một khu màu xanh dương nhỏ hẹp dành cho Frida. Thiết kế theo châm ngôn của chủ nghĩa chức năng, hơi đối chọi với sự ấm áp của vùng Casa Azul. Frida cũng không ở đó lâu, vì Diego đã dan díu với chính người em gái của cô tại đó. Cô bỏ đi. Rồi họ lại hòa giải, rồi lại chia tay.. Họ ly dị năm 1939 rồi cưới lại vào cuối năm 1940. Sau đó, như Hayden Herrera nhấn mạnh trong cuốn tiểu sử về Frida :”Hai huyền thọai nhập làm một”.
Dự án chung cuối cùng của cặp đôi khổng lồ này là một bảo tàng mà Diego muốn tạo dựng để bày bộ sưu tập nghệ thuật tiền sử của ông gồm gần 60.000 mẫu vật. Được Frida ủng hộ, Diego cho dựng một tòa kiến trúc khổng lồ 3 tầng, thể hiện thế giới của người chết, người sống và thế giới của thần linh. Đầu tiên chìm trong bóng tối, khách tham quan sẽ dần di chuyển tới khu vực có ánh sáng. Được xây bằng đá núi lửa, ngôi đền giống như một lăng mộ linh thiêng, có vẻ như làm tròn mơ ước lớn lao của Diego. Các tác phẩm được bày trong không gian rất huyền bí.
Sau khi cả hai mất, bảo tàng Anahuacalli tận năm 1964 mới được khánh thành. Diego muốn tro cốt của cả hai được để ở đó vĩnh viễn. Nhưng điều này đã không được thực hiện: tro của ông được đưa về Pantheon de Dolores, trong khu của những người nổi tiếng ở nghĩa trang lớn nhất Mexico. Còn tro của Frida thì đựoc chôn ở Casa Azul, ngay dưới chân giường cô, khá xa người đàn ông mà cô đã từng yêu điên dại.

(tổng hợp từ tạp chí Mỹ thuật Pháp) 12/5/2016

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly

OLGA PICASSO

Bí ẩn và trịnh trọng, luôn được giới thiệu như một nữ quí tộc cao cấp, người hướng Picasso tới tính hiện đại, Olga Khokhlova là chủ đề của một cuộc triển lãm đặc biệt từ 23 đến 3/9/2017 tại bảo tàng Picasso (Paris). Nữ diễn viên ballet Nga, người vợ đầu tiên của Picasso, hiện ra trong một ngày mới, qua những tài liệu do Joachim Pissarro, đồng tổ chức triển lãm, giới thiệu .

– Thưa ông, triển lãm này hình thành như thế nào ?

Nhờ có bạn tôi là Bernard Ruiz-Picasso, cháu trai của họa sĩ, người cũng là đồng tổ chức cuộc triển lãm này. Anh được thừa kế một vali đầy thư từ tài liệu bản thảo.. từ bà nội, mà anh thậm chí còn không đựoc gặp, vì bà mất năm 1955, và năm 1959 thì anh mới ra đời. Một hôm Bernard nhờ tôi xem xét các tài liệu này. Tôi hơi bị sốc trước đống tài liệu nhói tim này. Đó là những thư từ Olga nhận được từ gia đình, từ một số cựu quan chức cao cấp sa hòang ở Nga sau cuộc cách mạng. Cô đã không bao giờ gặp lại họ nữa. Họ đã kể về những đau đớn, về những ức chế mà họ phải trải qua . Bố cô mất tích năm 1921, có lẽ chết vì đợt sốt rét lúc đó.

– Ông đã phản ứng thế nào ?

Tôi vừa bị ngộp vừa có cảm giác say mê. Đối với một nhà sử học, thật là khủng khi bỗng tìm thấy nguồn tư liệu về một nhân vật quan trọng như vậy trong đời Picasso. Vào một ngày hòan tòan mới, cô hiện ra khác hẳn người phụ nữ xa cách và lập dị mà người ta vẫn mô tả. Thế hệ các chuyên gia đầu tiên về Picasso, vào thập niên 50, biết đến Olga vào lúc cô ấy gần như phát điên. Cô thậm chí phải vào điều dưỡng tại một viện về tâm thần. Lúc đó, người ta đã tập trung vào những câu chuyện về sự lập dị của cô, về tính cách sở hữu …v v.. Vâng, cô lúc đó có ghen tuông, nhưng ai mà không bị như vậy với một người chồng như Picasso ? Ngay năm 1927 ông đã đi lại với Marie-Therese Walter . Ngừoi ta cũng rỉ tai nhau về một Picasso quí tộc hóa với Olga, trở về với chủ nghĩa cổ điển trong tranh, với một sự ám ảnh về một khuôn mẫu trừu tượng và được lý tưởng hóa. Hòan tòan không phải vậy. Nguời mẫu của ông, trong con mắt ông, bằng da bằng thịt, tên là Olga. Ông đã thể hiện cô không biết bao nhiêu lần. Một cuộc đối thọai sâu sắc và mãnh liệt giữa họa sĩ và người vợ – người mẫu, nàng thơ của ông . Mối quan hệ của họ đã rất say sưa . Trong đống tài liệu, thậm chí có cả một « lời thề tình yêu » mà họ đã viết vào năm cưới nhau: »Chúng tôi, ký tên dưới đây, Olga Koklova và Pablo Picasso sẽ cùng nhau sống hòa hợp và yêu thương cho tới tận lúc chết . Ai phá vỡ cam kết này sẽ bị tội chết. »

-Vậy là cuộc triển lãm này mang tính phục hồi lại ..

Tôi thích dùng từ « chỉnh sửa » hơn. Tôi đã thử nghiệm với John Richardson, một trong những chuyên gia về Picasso khá có tiếng. Ông ấy đã nhận ra rằng cái chân dung mà ông miêu tả Olga trong cái tiểu sử hòanh tráng kia chỉ là một phần và hơi cảm tính. Ông thậm chí còn thú nhận đã không dám nói chuyện với cô khi chạm mặt cô lần duy nhất ở khách sạn phố Beaux-Arts. Thật lạ, chuyện về Olga được dựng lên mà không có cô ở đó.

– Vậy ông sẽ miêu tả về cô ấy như thế nào, với sự soi sáng của các tài liệu mới này ?

Đó là một người đàn bà nhiều đau buồn . Hãy nhìn tất cả những bức tranh mà trong đó cô đang đọc sách. Trong suốt nhiều thập niên, người ta cứ nghĩ cô đọc Dostoievski. Thực ra, cô đang đọc đi đọc lại những tin tức từ quê hương , những tin tức khiến cô nát lòng. Mẹ cô, bà Lydia, là nhân vật trung tâm của bi kịch. Bà không hợp lắm với cô con gái thứ hai, Nina, nên dồn hết tình yêu thương cho Olga mà bà đã không gặp từ năm 1915. Hoàn cảnh của họ ở Mouscou lúc đó thật bi đát. Họ sống chật chội trong một studio của phường, không có lò sưởi và thường phải đối phó với lũ rệp . Bà mẹ đã hy vọng Olga sẽ đến đón bà.

– Và điều đó đã không được thực hiện ?

Đó có lẽ là sự tổn thương thầm kín nhất của Olga. Thời đó, Picasso đã rất giàu và ông cũng tỏ ra khá hào phóng bằng cách gửi tiền giúp. Mẹ của Picasso thậm chí còn liên lạc với bà Lydia. Khi đọc những thư từ này, tôi bỗng hiểu ra rằng Picasso, một họa sĩ với cái tôi hơi quá, không muốn mẹ vợ mình gia nhập vào cái nôi sáng tạo mà ông đã tạo dựng với Olga và con trai Paul. « Cuối cùng, mẹ đã hiểu rằng chồng con không thực sự muốn gặp mẹ » – bà Lydia viết trong một lá thư. Đối với Olga, đó hẳn là một cơn ác mộng khủng khiếp.
Tôi rất muốn có bằng chứng về sự im lặng của cô về cuộc sống với Picasso . Chúng tôi hiện không có những văn bản viết, tôi vẫn hy vọng một ngày nào đó tìm thấy nó ở Nga, nhưng bà Lydia thường xuyên hỏi chi tiết về cuộc sống của họ, và Olga đã không cho bà biết. Một chi tiết đau lòng khác: vào ngày cưới, cô bị thương ở chân và buộc phải bỏ khiêu vũ, một điều khá kiêng kị. Sau này là sự đau đớn nữa khi con trai Paul ở với bố sau khi họ chia tay. Bernard Picasso đã nói với tôi rằng bố anh không bao giờ nói về mẹ anh .

– Ông cũng là hậu duệ nhà Pissarro, cũng nổi tiếng lúc này với hai triển lãm ở Paris. Điều đó có một vai trò nào đó trong thiên hướng của anh ?

Có lẽ vậy, dù tôi học triết học ra. Lúc đầu, tôi lao vào học triết học Đức, Kant và Fichte, nhưng rồi môn lịch sử nghệ thuật đã kéo tôi đi . Lúc đó tôi chả biết gì về truờng phái ấn tượng. Tôi chỉ thích trường phái tối giản và các nghệ sĩ như Carl Andre. Rồi khi tìm hiểu về các đền thờ của Monet và khía cạnh seriel của họ, tôi đã gặp gỡ Daniel Wildeinstein, người hỏi tôi rằng : Vì sao anh không nghiên cứu Pissarro ? Hai tuần sau, anh gửi vé máy bay để tôi tới học với chuyên gia lớn nhất về ông nội tôi. Điều khôi hài là ông có một ngôi nhà ở Eragny-sur-Epte , không xa Boisgeloup, lâu đài mà Picasso mua năm 1930. Một hôm, đi thăm Bernard ở Boisgeloup , tôi bỗng sững lại trước tháp nhỏ của một nhà nguyện cũ. Từ lâu tôi vẫn giữ một bức màu nứơc của ông nội tôi. Quan hệ hàng xóm giữa Picasso và Pissarro ít được biết đến, nhưng tôi tin có những ảnh hưởng qua lại nào đó.

Olga trong nhiều tranh của Picasso được thể hiện thường là buồn, đôi khi đang đọc hoặc vẽ viết gì đó..

( Point de Vue, số 3584, tháng 4/2017)

Những mảnh ghép

Đó là một cặp tỏ ra bình thường như bao cặp khác. Ông chạc 70, bà khỏang hơn 50. Ông người tầm thước, tóc hoa tiêu, vẫn lưu dáng dấp quí tộc cổ điển Anh. Ông từng sống và kinh doanh ở Anh mấy chục năm. Bà béo tròn phốp pháp, vẻ mặt và nụ cười hồn hậu, đôi lúc hơi pha nét trẻ con .
Cả hai đều từng đổ vỡ trước khi đến với nhau. Họ không có con. Và cũng không có chó. Niềm vui duy nhất có lẽ là sự ấm lòng khi nhìn thấy bóng nhau mỗi ngày. Tuy nhiên, cuộc sống thì không đơn giản …
Đôi lúc ông sang ngồi uống trà và buồn buồn thông báo hôm nay vừa cãi nhau với bà. Tôi bảo mọi việc rồi sẽ ổn thôi, ông bảo: thế à ?! Có hôm bà chạy sang hớt hải kể một mạch chuyện xích mích với ông. Ông kể thì thường đơn giản một câu thông báo cụ thể và không thể ngắn hơn: tôi cãi nhau với bà ấy.
Bà kể thường rối rắm chuyện nọ sang chuyện kia khiến người nghe có cảm giác vấn đề chính không phải là cuộc cãi cọ với ông sáng nay mà do những tích tụ từ mấy tỉ năm trứoc. Chỉ có một lần duy nhất bà kể rành mạch nhưng với giọng trầm buồn trong nước mắt rằng ông ký di chúc ở văn phòng lục sự, quyết định để lại 70% tài sản cho Sans Frontieres, là tổ chức các bác sĩ không biên giới, chuyên làm từ thiện, cứu giúp các bệnh nhân nghèo. Bà bảo bà thấy bị tổn thương vì sau bao năm sống với ông, bà cảm giác bị coi như một vật phụ. Bà nói Sans Frontieres đã nhiều tiền rồi, cả thế giới gửi vào đấy, trong khi bà tuổi già chỉ trông vào chút trợ cấp. Nếu ông không còn nữa là bà chỉ thui thủi một mình chứ tuổi này rồi còn tìm được ai nữa, đã thế bà còn béo ú , nên bà cũng cần chút an tòan về tài chính phòng khi ốm đau. Nhưng ông lại có vẻ không nghĩ vậy , làm bà thấy đau lòng. Bà nói bà sẽ chia tay, để ông tự do hơn trong việc quyết định … Vì không kết hôn nên bà cũng không có quyền gì nhiều. Bà bảo vấn đề không phải tiền đâu, nhưng cách ông nghĩ vậy làm bà tổn thương… Bà không muốn buồn khổ nữa. Giờ bà chỉ muốn sống yên thân…
Mấy hôm sau mỗi người đều tới uống trà, nhưng đi một mình. Họ tránh mặt nhau. Bà rời đi mới thấy ông tới. Bà vẫn nói chuyện vu vơ. Ông vẫn im lặng trầm tư. Tôi nghĩ : thôi thế là lại xong một cuộc tình . Nhưng không, Chúa có thật đấy nhé ! Nhưng tất nhiên, Chúa cũng chỉ giúp được những người còn duyên nợ với nhau .. 🙂
Ba hôm sau, thấy hai ông bà khóac tay nhau cùng tới uống trà . Vừa uống vừa nhìn vào mắt nhau cứ như thần Cupid ngủ mê ú ớ bỗng giương tên bắn cái bụp. Tôi cũng mừng thầm cho ông bà. Có lẽ như thế tốt hơn là mỗi người một nhà, tối tối ôm cái tivi thủ thỉ .
Một tháng sau, bà lại chạy sang mách hôm qua ông đi uống rượu lúc 3g sáng, xong không nhớ địa chỉ về nhà, khiến police phải dựng bà dậy lúc 4g sáng để đưa ông về…làm bà rất bực vì hôm đó bà đã đang bị cảm cúm… cả ngày lại phải chăm sóc và nhắc ông uống đủ lọai thuốc bác sĩ kê đơn… , bà cũng chả phải 20 gì, cũng cần ngủ đủ giấc mới có sức… Bà kể lúc nào cũng trọn gói, tức là bà kể một hơi tất tật những gì khiến bà búc xúc. Kể xong, nét mặt bà giãn ra, vấn đề 5 phút trước còn to tướng, giờ như đã bay biến.
Ông thì những lúc buồn chỉ tới uống trà một mình, xong lặng lẽ đứng dậy và rời đi . Không nói gì.
Bà ưa nói, bà có nhu cầu thổ lộ tâm tư. Nếu không, có lẽ bà cảm thấy bứt rứt trong người. Ông hòan tòan ngược lại. Có lẽ vì ông ít nói quá nên nhu cầu đối thọai của bà tăng tới mức trở thành độc thọai. Bà nói bất kể có ai nghe không, bất kể điều đó có khiến ai thấy phiền không..
Bà kể đủ thứ chuyện.. Có lần ông mới đi viện về đuợc tuần, bà thao thao giữa quán rằng đêm qua ông nôn ra sao, rồi bà phải thay bỉm cho ông ra sao, khiến mọi người đều đưa mắt nhìn nhau . Bà nói như một cái máy không có chức năng kiểm duyệt phanh phiếc gì, mọi thứ cứ thế trôi ra không cách gì ngăn được. Tới mức nếu không nói , các mạch máu quanh miệng bà có thể ngừng lưu thông. Một lần, bà bị viêm họng khá nặng, gần như mất tiếng, giọng bà khào khào phải căng tai may ra mới hiểu. Tôi đã mừng thầm hôm nay bà sẽ nghỉ ngơi một chút. Nhưng không, họng hiếc không ảnh hưởng tí zì tới việc “vận hành thông tin” của bà. Dù nói đứt quãng không ra hơi, bà vẫn quyết không giảm thời lượng, volume cũng như tốc độ của các câu chuyện mà bà cho là hấp dẫn 🙂 khiến tôi dù chỉ căng mỗi tai để nghe mà lại có cảm giác đau cả họng luôn 🙂
Những năm trước, lúc còn khỏe, mỗi khi thấy bà nói chuyện linh tinh, ông thường gắt: bà thôi đi ! Có hôm lời qua tiếng lại hai nguời to tiếng ngay trước mặt mọi người. Rồi ông bỏ đi, bà ngồi đó lẩm bẩm lầm bầm …Xong đứng dậy bảo: thôi tôi về xem ông ấy thế nào .
Nhưng từ hồi đi viện về, thấy ông lặng lẽ hơn, có vẻ mệt mỏi hơn. Những lúc không hài lòng với những câu chuyện quá đà của bà, ông thường quay sang nhìn bà chằm chằm, không nói một câu nào. Những lúc ấy, đôi mắt ông phủ một gam màu u uất như không có lọai thuốc tẩy nào xóa nổi. Lắm khi cái nhìn của ông nặng tới mức như sắp có chiến tranh. Bà thì những lúc đó chỉ liếc sang nhìn ông một giây rồi tiếp tục tươi cười quay lại câu chuyện của mình như chả có gì xảy ra . Bà quen với chuyện đó . Ông chỉ nhìn vậy thôi, và sẽ chả có gì xảy ra. Và ông cũng quen với chuyện đó. Trời còn không thay đổi được bà, ông thì là cái thá gì ! Nói xong 5 phút chắc bà cũng quên đã nói gì .
Tôi chỉ lặng lẽ quan sát họ. Không dám nói một lời . Mà cũng chả biết nói gì. Bao năm sống đất người, tôi học được cách thận trọng. Với văn hóa ở đây, bất kỳ một lời khuyên nào cũng có thể hoặc bị cho là can thiệp vào đời tư họ. Hoặc chỉ làm mọi việc tệ thêm.
Cứ thế, họ song hành cùng nhau. Vừa song song bên nhau, vừa yêu thương và hành hạ nhau. Bà hành ông với những câu chuyện không đầu cuối bất tận. Ông hành bà với sự im lặng có nguy cơ cũng bất tận.
Có lẽ ông không biết phải nói gì nữa. Cũng có lẽ ông đã nhận ra bà không ý thức được những gì bà nói, việc đối thọai với vô minh hay vô thức quả là rất nhọc … Hoặc ông nghĩ có lẽ im lặng tốt hơn là làm mọi việc rối thêm. Nhưng với bà nó lại là một sự nặng nề khó chịu. Có thể bà xem đó như một sự coi thường, sự khinh miệt, và bà ngấm ngầm chống đối theo cách của bà . Ông thì đã vào giai đọan chấp nhận, cũng có thể ông thấy mệt mỏi quá ..
Cuối tuần rồi, họ lại cùng nhau tới uống trà , bà vẫn tiếp tục kể các lọai chuyện, kiên quyết bám chắc công thức “nói dài, nói dai, nói dại” … Thi thỏang bà cũng dừng lại, không quên hỏi ông ăn uống có ngon không, lấy thêm cái này cái nọ dùm ông. Một lúc, ông đứng dậy và nói ông muốn về nhà. Bà làu bàu: tôi còn chưa uống xong mà. Ông chả có kiên nhẫn gì cả. Nhưng lúc đứng dậy ra lấy áo khóac, bà vẫn giúp ông mặc áo và cài từng chiếc cúc cẩn thận. Vì ông không gập đựoc lưng xuống. Rồi bà phẩy cái lá dính trên áo ông, đội mũ giúp ông, chỉnh mũ cho ngay ngắn. Ông nhìn xuống bà với ánh mắt trìu mến, khác hẳn mấy phút trước.
Rồi họ dắt tay nhau rời đi. Tôi nhìn hút theo bóng họ. Bóng ông nặng chịch và chậm chạp từng bước. Bóng bà lật đật bươn bả bước theo. Cứ thế họ dìu nhau đi trong nhập nhọang của một buổi chiều muộn, dưới mưa tuyết lất phất lạnh lẽo trên con phố nhỏ . Họ dìu nhau như thế đã 15 năm…
Tôi chợt giật mình nhớ tới một câu chuyện nghe lãng nhách mà cô bạn mới kể mấy hôm trước. Rằng có hai anh chị kia đẹp đôi lắm, yêu nhau thắm thiết lắm, lãng mạn lắm. Được mấy tháng, họ chia tay và mỗi người đi tiếp con đừong của họ với một người khác.
La La Land là một phim thể lọai nhạc kịch lãng mạn pha bi hài. Phim vừa ẵm hàng chục giải thưởng danh giá tại các liên hoan phim Venice, Toronto, Quả cầu vàng, Bafta.. và hơn chục đề cử Oscar đang chờ kết quả trong mươi hôm nữa. Ờ…
(15/3/2017)