Ta yêu những buổi sáng thức dậy nhẹ nhàng mà không bị cái đồng hồ nào the thé gọi. Thật. Bất cứ thể lọai nhạc nào cài vào đấy cũng trở nên vô duyên kinh khủng 🙂Ta cũng biết có những người khi thức dậy, việc đầu tiên họ làm là tóm lấy cái đồng hồ và .. ném vào tuờng , hahaha ))))))) (27/12/2015)

Rembrandt, thiên tài mãi đi tìm sự thật

Đối diện bức họa này, cái nhìn của nhân vật nữ khiến trái tim bạn bứt rứt.
Cái nhìn dịu dàng và trầm tĩnh, vừa tổn thương vừa muốn bảo vệ.
Đường cắt của chiếc áo để cho người xem đoán phần tuyết trắng nơi cổ. Một chiếc áo lông đắt tiền phủ qua vai, trong khi bàn tay phải vịn vào tay ghế. Thực sự rất quí phái. Chân dung Hendrickje Stoffels, nàng hầu của họa sĩ, ngừoi phụ nữ cuối cùng bên ông .
« Ông đã muốn giới thiệu nàng như một phụ nữ rất quan trọng trong cuộc đời mình » – Peter Schatborn, người phụ trách triển lãm Rembrandt intime, nhấn mạnh . « Cô ấy đối xử cực kỳ tốt với ông. Và cùng với Titus, con trai của Rembrandt, cô đã bảo vệ ông khỏi các chủ nợ, khi ông định bán tất cả để tránh phá sản. Tiếc là cô ấy mất 6 năm trước khi họa sĩ ra đi và Titus thì mất 13 tháng trước cha mình ».

Bi kịch và vinh quang trộn lẫn trong cuộc đời của danh họa Hà Lan Rembrandt. Là con trai của một chủ nhà máy xay bột giàu có ở Leyde, ông sinh năm 1606. 14 tuổi ông theo học họa sĩ Jacob Isaacsz van Swanenburgh, rồi sau đó theo học tại xưởng của họa sĩ Peter Lastman, chuyên vẽ các cảnh trong kinh thánh và thần thọai. « Rembrandt học được ở đó khá nhiều về kỹ thuật, màu sắc, bố cục, tuy nhiên cũng không lâu. Vì cậu học trò đã sớm tìm con đường riêng cho mình hướng tới cách diễn đạt, sức mạnh, và những bố cục tập hợp . »
Giai đọan đầu tiên này đã mở màn cho triển lãm Bối cảnh lịch sử (La scène d’histoire) năm 1626, với các bức họa khổ lớn, màu sắc sống động, và những khuôn mặt phản chiếu tâm hồn các nhân vật.
Đối với Pierre Curie, người phụ trách bảo tàng Jacquemart-André, thì « Rembrandt thường thích vẽ khổ nhỏ. Ở ông, sự thân thuộc cũng nằm trong những chủ đề được đề cập trong quá trình sáng tạo. Ông đã tìm tòi nhiều tới mức người ta có thể khám phá sự phát triển của ông ở mọi giai đọan cuộc đời .

Bữa ăn của những nguời hành hương ở Emmaus (một kiệt tác về sáng-tối)

Sau Louvre, Jacquemart-André là bảo tàng thứ hai của Pháp trưng bày tác phẩm của danh họa này.
« Bức Chân dung bác sĩ Arnold Tholinxz được Edouard André mua năm 1865. Bức Bữa ăn của những người hành hương ở Emmaus và bức Chân dung công chúa Amalia ở Solms, được mua năm 1891 và 1892 với sự tham gia của Nélie Jacquemart ». Ba bức trong bộ sưu tập cố định của bảo tàng về danh họa này đại diện cho 3 giai đọan chính trong cuộc đời Rembrandt: giai đọan sáng-tối, giai đọan hiện thực, và giai đoạn cảm xúc sâu sắc của bản thể mà bức Chân dung Hendrickje Stoffels là một minh chứng hòan hảo. Cũng như bức Titus đang đọc (Titus lisant). Áng sáng rơi từ trên cao, xuống khuôn mặt, mái tóc, đôi bàn tay, và cuốn sách. « Đó là một bức chân dung khá trìu mến, của một người cha vẽ con mình. Và cậu con trai trong mắt ông cũng hơi giống mẹ » – Peter Schatborn mỉm cười. Vợ Rembrandt, tên là Saskia mất ở tuổi 30, được giới thiệu trong triển lãm này qua bức Saskia và Flore, vẽ năm 1634, một kiệt tác mượn của bảo tàng Ermitage. Đó là giai đọan mà nghệ thuật của bậc thầy rực rỡ với phong cách hiện thực (réalisme), một sự chính xác ngọan mục. Trong bộ áo chòang bằng gấm vóc phương Đông đắt tiền, Saskia đầu đội vòng hoa, hiện thân cho tuổi trẻ và khả năng sinh sản, mượn ý từ thần thọai Hy lạp về nữ thần Flore.
Saskia và Flore
« Rembrandt sử dụng các tác phẩm của những họa sĩ khác để nuôi nấng những chủ đề về phương Đông của ông, như khiến ông nghĩ đến trang phục của Saskia. Ở nhà ông có những sưu tập các tượng bán thân, tranh tượng, bản khắc.. của Titien, Durer… , những vỏ sò, thanh gươm và nhiều vật khác mà ông sử dụng để vẽ vào tranh của mình. Ông luôn luôn tìm tòi hiện thực trong từng chi tiết, để thể hiện sâu mỗi khuôn mặt, mỗi cảm xúc con người. Rất nhiều bức chân dung tự họa ông thực hiện ở giai đọan này. Ông dùng nó để nghiên cứu từng cung bậc cảm xúc của chính mình, trong gương ».
Cũng như Titien, Caravage, Rubens… Rembrandt là một bậc thầy về sáng-tối trong lịch sử hội họa thế giới.

cô dâu Do Thái , một trong những bức nổi tiếng nhất của Rembrandt

Triển lãm có tên Rembrandt intime tại bảo tàng Jacquemart-André (Paris) từ 16/9 cho tới ngày 23/1/2017 trưng bày 3 giai đọan sáng tác của Rembrandt với bộ sưu tập các bức chân dung tự họa của ông và người thân, các tác phẩm thời trẻ và thời đã vững vàng, các bức họa, phác thảo, tranh khắc trong nhiều trạng thái khác nhau.. cho thấy một thiên tài mãi đi tìm sự thật.

(lược dịch từ tạp chí Point de Vue. 25/9/2016)

Tôi không sợ ma, mà đúng ra là sợ…

Jean Cocteau từng nói : »Hãy trau dồi những gì mà người ta trêu chọc bạn, bởi đó chính là cá tính của bạn ». Tim Burton nhớ câu này nằm lòng . Suốt thời trẻ, anh thường nghe người ta phán mình là « nhân vật lạ ». Và anh lấy chính điều đó vào cuộc sống và các phim của mình. Từ Edward Scissorhands, tới Beetlejuice, rồi Big Fish, nhờ các phim lạ lạ như vậy mà anh đã vươn tới thành một đạo diễn nổi tiếng trong thế hệ của mình. Bộ phim mới của anh lại khẳng định lần nữa một phong cách lạ .

Hãy đến với ngôi nhà của Miss Peregrine và những đứa trẻ lạ lùng …
Dưới đây là cuộc chuyện trò của đạo diễn Tim Burton với một nhà báo điện ảnh Bỉ.

– Theo nhà văn Ransom Riggs, tác giả của truyện « Miss Peregrine » thì anh đã có ý tưởng chuyển thể truyện của ông ấy, khá lâu trước khi chính thức nói chuyện với ông về dự án này.

– Tôi thấy truyện của ông ấy khá thú vị. Ngay khi mở ra, tôi đã thấy rất nhiều tấm ảnh cũ ở đó. Tôi cũng sưu tập nhiều ảnh cũ, tuy không nhiều bằng ông ấy. Và tôi nghĩ rằng chúng tôi có cùng nhiều lý do để làm: mỗi tấm ảnh kể một câu chuyện hoặc khởi đầu một cuộc phiêu lưu. Trí tưởng tượng của bạn sẽ điền vào những chỗ bị hổng.

– Và anh có ngay vai chính Jacob với người mà anh rất thân ?

– Vâng, đó là bà tôi. Tôi sống với bà từ nhỏ. Bà luôn che chở và cho tôi niềm tin. Bà cho tôi ăn và một mái ấm. Bà để cho tôi là chính mình trong một giai đọan khá quan trọng trong cuộc đời.

– « Miss Peregrine nói về tầm quan trọng của những người khác mà nhờ đó họ bước vào thế giới giàu có. Đó là một nội dung quan trọng đối với anh ?

– Đúng vậy. Khi còn nhỏ tôi chả thấy mình có gì không bình thường, nhưng bởi vì tôi thích xem phim ma và thích chơi ở nghĩa địa mà người ta gán cho tôi một cái nhãn « không bình thường » . Và nó đã cản trở tôi một thời gian. Cho tới một ngày tôi nhận thức được rằng tôi có lợi thế chính ở điều đó. Anh thấy đó, giờ tôi làm phim ma . Nó cho tôi khả năng gặp gỡ những người anh hùng của mình như Vincent Price, Christopher Lee..
Cái gì lúc đầu có vẻ tệ về sau lại hóa ra rất tốt. Mọi người đều một lúc nào đó trong cuộc sống cảm nhận mình là một ai đó khác. Với phim này tôi muốn nói với tất cả bọn trẻ rằng cái ok nhất là hãy là chính mình thôi. Ngay cả khi đôi lúc rất khó khăn.

– Anh có một điều gì đó chung với những đứa trẻ đặc biệt trong phim này ?

– Vâng, trong cái cách chúng là những đứa trẻ cực kỳ bình thường trong cuộc sống chung như biết bao gia đình khác. Một cách nói ẩn dụ thôi. Như là bọn trẻ có những giấc mơ lạ lùng vậy. Phim cũng muốn nói về những giấc mơ lạ.

– Nếu là một trong những đứa trẻ đó và có thể chọn, liệu anh sẽ thích xem một cảnh lửa cháy hay lũ ma quỷ vô hình ?

– Ma quỷ thì tôi thấy rồi còn zì (cười) . Anh chẳng biết trong đầu tôi có gì đâu .

(đọc tới đọan này, tôi lại nghe thấy vang lên ca khúc Zombie của Cranberies : what’s in your headdddddd ? 🙂 )

– Sao anh lại chọn Eva Green cho vai Miss Peregrine ?

– Miss Peregrine là một dạng phim Scary poppins . Cô có một phần hoang dại và có thể biến thành một con chim. Tôi thích những nhân vật nữ mà không nhất thiết phải biểu diễn những khả năng của họ. Họ là chính họ thôi. Mạnh mẽ, mà không phải cứ vì là đàn ông hay đàn bà. Tôi thấy Eva rất hợp vai diễn này. Cô ấy có dáng vẻ của một cô giáo làng. Giá mà tôi đã có một cô giáo như thế (cười). Eva thể hiện rất tuyệt cả phần hài hước lẫn bi kịch. Vì vậy tôi thích làm việc với cô ấy.

– Ngôi nhà của Miss Peregrine bắt đầu là ở Bỉ. Anh đã quay một phần của phim ở Torenhof, gần Antwerpen. Anh đã chọn địa điểm thế nào ?

– Trước tiên, tôi có một địa điểm ở Anh, nơi tôi từng sống và phần lớn phim này quay ở đó. Nhưng tôi lại không tìm thấy một ngôi nhà đúng tinh thần câu chuyện, nên tôi đã tìm ở Pháp và Bỉ. Tôi muốn một tòa nhà thực sự là giống nhà chứ không phải giống một trụ sở hay bệnh viện . Một cái gì đó phải kỳ quặc. Rồi khi tôi nhìn thấy ngôi nhà này, trong đầu tôi hiện ngay lên tít của cuốn sách. và tôi biết ngay là chính nó. Ngôi nhà có rất nhiều hình vẽ và nóng bức ngột ngạt nữa.

– Ngôi nhà này trước kia là của một xưởng sản xuất bánh kẹo.

– Thật à ? Tôi đã không biết điều đó. Khi nó được rao bán, tôi đã rất muốn sở hữu. Nhưng có ai đó đã nhanh chân hơn (cười).

– Anh có thể cho biết những cảm hứng thị giác về ma quỷ trong phim này không ?

– Trong sách có miêu tả đấy. Nó là một dạng chuyện ma. và tôi muốn làm nó giống như một giấc mơ xấu (nightmare) của một đứa trẻ. Vì vậy, gương mặt chúng phải vô hồn và chúng vẫn có quần áo trên người. Tôi muốn làm một phim kinh dị như vậy.

– Còn anh, anh sợ điều gì ?

– Những điều mà người ta cho là đáng sợ theo cách thông thường trong cuộc sống lại không làm tôi sợ mấy. Mà đúng ra là tôi sợ một cuộc sống « bình thường » hơn (cười).

– Phim này là một cách anh thách thức ma quỷ ?

– Chính thế đấy. Đối với tôi, phim này là một dạng phân tích tâm lý hạng nặng đấy (cười).

(La Libre – 23/10/2016)

JAN FABRE , chiến binh của cái Đẹp

Gallery Deweer (Bỉ) đang triển lãm một số tác phẩm của Jan Fabre với tên gọi « Jan Fabre – Vanitas vanitatum, omnia vanitas » (1/6 đến 3/7). Các tác phẩm này sau đó sẽ được triển lãm tại Bảo tàng Hermitage ở St.Petersburg từ 21/10/2016 đến 9/4/2017, với tên gọi « Jan Fabre – Hiệp sĩ tuyệt vọng / Chiến binh của Cái Đẹp » ( Jan Fabre –Knight of Despair / Warrior of Beauty ).. Các tác phẩm của Jan Fabre sẽ được đặt trong gian Nghệ thuật Flemish thế kỷ 17, tại khu trưng bày các tác phẩm của Jacob Jordaens, một họa sĩ gốc Antwerp (1593 – 1678) .

Phù hoa và sự chung thủy là hai chủ đề chính trong serie mới rất ấn tượng này. Cả hai chủ đề đều quen thuộc trong nghệ thuật Flemish từ thế kỷ 16,17 cũng như các tác phẩm của bậc thầy nghệ thuật baroque Jacob Jordaens . Các khái niệm trừu tượng đều đã được giới thiệu trong lịch sử hình tượng qua những biểu tượng đa dạng . Một hộp sọ, một bộ xương, ngọn nến tắt, hoa héo, đồng hồ, chiếc ly úp ngược… tất cả đều tượng trưng cho sự hư vô ngắn ngủi . Con chó tượng trưng cho sự trung thành, tận tâm, thậm chí sự giúp đỡ . Trong sự kết hợp với một lọat các hình ảnh miêu tả sự phi giới hạn, chúng ta sớm hiểu rằng biểu tượng con chó cũng có ý nghĩa cho những thứ con người cho là thấp hơn phẩm giá của mình. Một lần nữa, Fabre cho thấy cái nhìn sâu sắc của ông về sự ngắn ngủi của cuộc sống trần gian . Con người phải tự cam kết với những lý tưởng vượt thời gian, như là Cái Đẹp. Những cái khác đều không thích hợp.

Jan Fabre là một trong những nghệ sĩ hàng đầu của Bỉ hiện nay. Nhiều tác phẩm của ông được trưng bày trong khuôn viên Quốc hội Bỉ, và cũng thuộc bộ sưu tập nghệ thuật của Hòang gia Bỉ. Dưới đây là cuộc trò chuyện với nghệ sĩ trong khuôn khổ cuộc triển lãm đang diễn ra.

– Điều gì gây cảm hứng cho ông và cho ông năng lượng ?

Jan Fabre (J.F): Sự rối rắm của cái đẹp và tình yêu cho tôi năng lượng. Cơ bản là vậy.

– Những cảm hứng của ông cho các tác phẩm mosaic mới là gì ?

J.F : Triển lãm lấy cảm hứng từ các bức tranh của Jacob Jordaens. Tất cả những bức tranh này sẽ được trưng bày trong triển lãm « Hiệp sĩ tuyệt vọng / chiến binh của cái Đẹp » từ 21/10/16 đến 9/4/17 tại bảo tàng Hermitage ở St. Peterburg (Nga). Tôi đã phải chuẩn bị cho triển lãm này cả 3 năm. Các tác phẩm của tôi tương tác với các bức tranh của Jordaens. Ông ấy thường vẽ chó . Chó là một biểu tượng của lòng trung thành. Triển lãm ở gallery Deweer cũng về lòng trung thành và sự hư ảo .

đầu lâu của Jan Fabre cũng lấp lánh, nhưng vẫn chưa ăn chơi bằng đầu lâu nạm kim cương của Damien Hirst

– Ông làm thế nào để sưu tập các con bọ cánh cứng ?

J.F : Đa số những con bọ cánh cứng này là từ các nhà hàng. Tôi có những liên lạc quốc tế về ngành côn trùng học ở châu Á như là Indonesia, Malaysia… Ở đó họ ăn côn trùng. Các trường đại học thu thập những bộ cánh mà người ta vứt đi .

– Có mất nhiều thời gian không ?

J.F: Có, thường là mất một năm hoặc năm rưỡi để thu thập những bộ cánh đó cho các tác phẩm của tôi .

– Ông cũng là nhà sưu tập côn trùng ?

J.F : Tôi cũng là một nhà côn trùng học nghiệp dư. Bên cạnh một bộ sưu tập côn trùng, tôi cũng được thừa hưởng những cuốn sách và bản thảo của Jean-Henri Fabre, một trong những nhà côn trùng học lớn nhất trong thời của ông.

– Ông có theo những nguyên tắc cơ bản nào đó khi sưu tập côn trùng ?

JF: Vâng, tôi chỉ làm việc với những côn trùng đã chết vì các nguyên nhân tự nhiên.

một sắp đặt của Jan Fabre tại bảo tàng Louvre (2008)

– Ông triển lãm khắp thế giới . Mọi người phản ứng thế nào ở các nước khác nhau về các tác phẩm của ông ? Theo cùng một cách hay các cách khác nhau ?

J.F : Luôn luôn có một liên kết bí mật giữa người xem và một tác phẩm nào đó. Là nghệ sĩ, bạn không thể can thiệp vào việc này. Khoảng 2 tuần trước, tôi có khai mạc một triển lãm có tên « Những người canh gác tinh thần » (Spiritual Guards’ ) ở Firenze (Ý). Đây là một triển lãm khá lớn và trong 14 ngày đó có khỏang 25000 người đến xem. Số người xem cũng tùy thuộc từng nước và những bình luận cũng tùy thuộc vào văn hóa.

tác phẩm của Jan Fabre ở Ý (2016)

– Ông có thích khi người ta hỏi về ý nghĩa các tác phẩm của ông ?

J.F: Tôi hy vọng những người xem tự họ nhìn và phản ứng. Nhìn và suy nghĩ. Khoảng một năm trước tôi cũng có một triển lãm. Trong số các khách đến xem có cả trẻ con, khỏang 10, 12 tuổi , và chúng bình luận về các tác phẩm của tôi. Bọn trẻ con luôn trung thực và chân thành. Đôi khi nghe chúng nói chúng nghĩ gì còn thú vị hơn là đọc các phê bình mà người ta viết về các tác phẩm của tôi.

– Nghệ thuật đối với ông là gì ?

J.F: Nghệ thuật là về cái Đẹp nhưng không chỉ là thẩm mỹ . Các tác phẩm của tôi liên quan đến sự gắn kết giữa các giá trị đạo đức và nguyên tắc thẩm mỹ .

(nguồn Artfox , tháng 6/2016)

Mario Vargas Llosa: nếu anh là một nhà sáng tạo thực thụ, anh ở khắp nơi !

Mario Vargas Llosa sinh tại Peru, sống 10 năm đầu tiên ở Bolivia. Sau khi học luật và văn học ở Lima, ông nhận được học bổng ở Madrid và hòan thành luận văn. Sau đó ông sang Paris sống 9 năm. Ông hâm mộ Flaubert, Victor Hugo, Malraux, Sartre , Camus.. và kết bạn với những cây cổ thụ của văn học Mỹ la tinh như Julio Cortazar, Carlos Fuentes, Octvio Paz và Gabriel Garcia Marquez (riêng với Gabriel sau này ông có xung đột về tư tưởng nên đã cắt đứt mối quan hệ này)

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông , Thành phố và bầy chó (La Ville et les chiens) gây được tiếng vang và rất thành công cũng như những cuốn tiếp theo: Lầu Xanh (La maison verte), Trò chuyện ở quán Nhà thờ (Conversation à la Cathédrale), Dì Julia (La Tante Julia) , Người Cẩu thả (Le Scribouillard) và Lễ hội dê (La Fete au bouc) .
Ông có tài ở nhiều thể lọai: tiểu thuyết, phê bình nghệ thuật, chuyện ngắn, ghi chép, viết kịch, viết báo, ông cũng viết cả chuyện cho trẻ em..
Từng sống ở Paris, Berlin, London, Mỹ, Tây Ban Nha, ông nhận được khá nhiều giải thưởng quốc tế, trong đó có giải Nobel văn học năm 2010, do vua Thụy Điển trao tặng. Ông đuợc vua Tây Ban Nha vinh danh và được ghi tên vào Viện Hòang Gia Tây Ban Nha.

Mới đây, nhà văn gốc Peru đã trở thành tác giả người nước ngoài đầu tiên vinh dự bước chân vào La Pléiade danh tiếng (tủ sách tinh hoa văn học). Nhân dịp này, ông đã dành một cuộc trò chuyện đặc biệt với tạp chí Point de Vue ( Pháp).

– La Pléiade vừa trân trọng giới thiệu tiểu thuyết hư cấu của ông trong 2 số liền. Điều đó có ý nghĩa gì với ông ?

– Đó là một đặc quyền lớn lao mà NXB Gallimard dành cho tôi. Tôi ý thức được điều đó và rất vui . Hàng năm vào ngày sinh của tôi, tôi vẫn mua một tập của Pléiade. Tôi phải tiết kiệm tiền cả năm mới tự tặng mình một món quà như vậy mỗi năm .

– Ông có nhớ tập đầu tiên mà ông đã mua không ?

– Đó là tác phẩm của Rimbaud . Tôi mê tác giả này từ lúc còn trẻ .

– Ông đã có được tất cả vinh dự trên thế giới, ông viết nhiều thể lọai văn học, nhận nhiều giải thưởng . Vậy những thách thức tiếp theo của ông là gì ? Còn gì để ông thử nghiệm nữa đây ?

– Còn biết bao điều tôi chưa làm mà. Tôi biết rằng tôi không có thời gian để thực hiện tất cả. Nhưng khi tôi còn sống, tôi sẽ cố gắng không ngừng làm mới mình. Các kế họach của tôi hiện nay đặc biệt dành cho văn học : tôi còn biết bao câu chuyện muốn kể ! Tôi có một dự án rất tham lam mà tôi chắc sẽ chả có đủ thời gian để hoàn thành, đó là chủ đề về tự do. Tôi muốn kể câu chuyện làm thế nào mà một ông, sống trong một làng nhỏ xứ Ecosse, đã bắt đầu tự đặt câu hỏi: tự do là gì. Nó tạo ra một dòng chảy lịch sử, xã hội, văn hóa, kinh tế; điều mà cuối cùng cho phép xã hội biến chuyển. Tôi muốn kết thúc cuộc đời mình bằng cách ít nhất là bắt đầu viết cuốn sách này.

– Phải chăng nước Pháp và nền văn học Pháp đã làm nên ông ? Liệu ông có thể trở thành nhà văn không, nếu vẫn ở Peru ?

– Nếu tôi vẫn ở Peru, tôi sẽ trở thành một nhà văn rất khác. Các kinh nghiệm ở châu Âu của tôi đã khiến tôi thay đổi sâu sắc. Nó góp phần tạo nên tôi, làm nên con người tôi như hôm nay. Nếu không có kinh nghiệm sống ở nước ngoài, tôi sẽ không trở thành nhà văn như tôi hôm nay. Sự ảnh hưởng lớn nhất đánh dấu nơi tôi là sự ảnh hưởng của nước Pháp. Hồi trẻ, tôi ngốn ngấu đọc các tác phẩm cổ điển Pháp. Ngay khi bắt đầu học tiếng Pháp ở trường đại học, tôi đã đọc bằng tiếng Pháp và tôi đọc chủ yếu các tác giả Pháp. Rồi 8 năm sống ở Pháp vào đầu những năm 60 là những năm quan trọng nhất trong sự học hành của tôi. Chính ở Paris tôi đã thực sự trở thành nhà văn. Cũng chính ở Paris tôi đã khám phá châu Mỹ la tinh có góc nhìn văn hóa và văn học, cái mà trước đó tôi hoàn tòan mù mờ. Thời đó, người ta sống trong sự chia cắt nào đó của đất nước . Tôi còn chưa có ý thức về sự tồn tại của một thực thể văn hóa. Nước Pháp đã mang đến cho tôi ý tưởng về tính phổ quát : anh không chỉ viết về một nơi nho nhỏ nào đó quanh anh. Tầm nhìn của người sáng tạo văn học nghệ thuật phải là tầm nhìn của thế giới. Ngòai tính phổ quát này, là tiếng gọi tự nhiên của văn hóa Pháp. Và tính phê bình, một đặc tính cơ bản khác của văn hóa Pháp, nó rất hiện hữu trong cách viết của tôi.

– Người Peru trở thành người Tây Ban Nha, rồi ông đã sống ở Bolivia, Pháp, Đức, Anh và Mỹ. Ông có cảm thấy mình như một nhà văn Nam Mỹ không ? hay là một nhà văn tòan cầu ?

– Nếu anh là một nhà sáng tạo thực thụ, anh ở khắp nơi. Ngay cả khi gốc rễ của anh gắn với một nơi nào đó. Tôi nói tiếng Tây Ban Nha – Peru. Trong những cuốn sách thực hiện ở Peru, tôi đặc biệt sử dụng ngôn ngữ Tây Ban Nha – Peru này, nhưng nếu nó được thực hiện ở Brazil hay Cộng hòa Dominica, tôi sẽ viết bằng tiếng Tây Ban Nha phổ thông . Tính tư duy , tầm nhìn mà tôi có với tư cách nhà văn không bị đóng dấu bởi một xã hội đặc thù nào. Kinh nghiệm của tôi là luôn tòan cầu hơn. Vả lại, văn chương thực thụ thì luôn luôn phổ quát. Tôi cảm thấy vững vàng ở khắp nơi, tôi biết tôi sống ở đâu. Hiện tôi sống ở Tây Ban Nha, nơi tôi tham dự vào đời sống văn hóa Tây Ban Nha. Cũng vậy khi tôi sống ở Anh, Pháp hay Mỹ. Tôi hòa nhập ngay lập tức với nơi tôi sống. Ngay cả những nơi có thể có vẻ kỳ lạ với tôi, thì tôi cũng cảm thấy như nhà mình. Tôi trở thành một công dân thế giới như thế đấy. Đó là đặc quyền của các văn sĩ, các nghệ sĩ . Ngay cả khi anh không ra khỏi nước mình, thế giới của một người sáng tạo cũng không bị giới hạn bởi các biên giới.

– Thời trẻ ông đã ngốn ngấu các tác phẩm cổ điển. Trong khi đó, cha ông đã từng tìm cách để tránh cho ông khỏi ảnh hưởng của văn chương. Điều gì trong ông đã quyết định cái nhu cầu viết lôi cuốn này ?

– Đó là một sự lựa chọn. Người ta thường có một khuynh hướng nào đó, và vào một lúc nào đó, ta chọn trở thành nhà văn. Vậy thì như Flaubert nói, viết đã trở thành một cách sống. Và ta tổ chức tòan bộ đời sống của ta theo sự lựa chọn đó. Tất cả đều dẫn tới viết và viết. Năm 1958 tôi ở Madrid và lấy bằng tiến sĩ văn học. Tôi đã hiểu rằng nếu tôi muốn trở thành một nhà văn, tôi phải cấu trúc cuộc sống của tôi hòan toàn theo tiếng gọi đó. Tôi đã biết từ lúc đó rằng viết phải trở thành mối bận tâm đầu tiên của tôi và tôi phải tự điều chỉnh các năng lượng của mình để viết, ngay cả nếu tôi phải làm việc ở đâu đó để kiếm sống. Tôi đã rất may mắn bởi vì ở Paris tôi đã tìm được những công việc cho tôi có thời gian rảnh. Tôi làm những việc này chỉ với lý do duy nhất là nó cho phép tôi viết hàng ngày một cách có kỷ luật.

« Tiểu thuyết là câu chuyện riêng tư của các dân tộc » là một câu dẫn của Balzac nhấn mạnh trong cuốn Trò chuyện ở quán Nhà thờ (Conversation à la Cathédrale). Ông theo đuổi mục tiêu nào qua tác phẩm hư cấu của ông ?

– Tiểu thuyết diễn tả đời sống xã hội của một viễn cảnh mà không phải viễn cảnh của lịch sử, của xã hội học, hay của báo chí. Nó không chỉ phản ánh hành động của con nguời, mà còn cả đời sống bên trong họ. Văn học có thể trăn trở về những giấc mơ, những ảo tưởng. Cái không gian bí mật này thóat khỏi lịch sử . Nó cho chúng ta cái nhìn hoàn tòan về cuộc sống.

– Ông có cảm thấy vừa bất lực với việc nhà văn sống trong thế giới thực , vừa cảm thấy mạnh mẽ để tạo ra một thế giới khác nhờ sức mạnh của trí tưởng tượng ? Ông có sống cuộc sống của các nhân vật anh hùng của ông ?

– Người ta xây dựng các nhân vật. Nhưng điều rất thú vị ở chỗ vào một lúc nào đó, các nhân vật giải phóng khỏi tác giả và trở thành những ngừoi tự do, có những tính cách riêng của họ mà ta phải tôn trọng. Ta không thể áp đặt cho họ một cách ứng xử nào đó . Khi ta phát hiện ra rằng có một sự bắt chước cuộc sống thực sự, đó là lúc thích thú nhất và cũng cảm động nhất trong công việc viết văn.

– Ông đôi khi đã dấn sang chính trị: khi ông ra ứng cử tổng thống Peru, hay bây giờ trong việc bảo vệ thể chế dân chủ ở Venezuela. Ông làm thế nào để duy trì sự cân bằng tế nhị này ?

– Văn học mãi luôn là mối quan tâm hàng đầu của tôi. Tôi tham dự vào các cuộc tranh luận chính trị với tư cách nhà văn , đặc biệt bằng cách viết. Thời gian ra ứng cử tổng thống chỉ là một giai đọan rất ngắn trong cuộc đời tôi. Chính bằng những bài tôi viết trên báo là tôi tham dự vào các cuộc bàn luận công cộng. Tôi tin đó là một trách nhiệm, không chỉ đối với các nhà văn mà đối với tất cả mọi người. Nếu anh không tham gia vào đời sống chính trị, anh không có quyền than phiền. Đó là một trách nhiệm công dân và đạo đức. Nhưng chính trị không phải là tiếng gọi của tôi.

– Theo ông, đâu là tương lai của văn học khi đối diện với cơn bão về hình ảnh và giải trí ?

– Văn học sẽ sống tiếp. Nhưng sẽ là rất buồn nếu văn học chỉ sống trong các hầm mộ, một cách ngoài lề . Cũng có thể rằng phần lớn xã hội có thể từ chối văn học và chọn hình ảnh để giao tiếp, để thông tin hoặc để giải trí. Nó sẽ là một sự bào mòn khủng khiếp trong đời sống nếu điều đó xảy ra. Đó sẽ là do xã hội lựa chọn chứ không phải một định mệnh. Ngôn ngữ và văn học không thể bị thay thế bởi các hình ảnh nhân tạo. Những hình ảnh không có khả năng ý thức về thực tế một cách phức hợp . Khi công chúng nhận hình ảnh, họ trở nên thụ động. Tư duy phê bình sẽ biến mất cùng với văn học. Tất cả những điều đó, thật may, vẫn còn khá xa. Tuy nhiên cũng có những dấu hiệu đáng lo ngại.

– Từ nào là từ yêu thích của ông ?
– Tự do ! Bởi tự do cho phép con người và xã hội phát triển. Nó hỗ trợ giao tiếp và sự gắn kết hòa bình giữa con người. Đó là một cơ bản về quyền con người. Tóm lại, tự do đã tạo nên tất cả các tiến bộ của nhân lọai.

(dịch từ tạp chí Point de Vue, số 3532, tuần đầu tiên của tháng 4/2016)

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly

Đàn bà với Valloton: tạo vật đáng thèm và đáng sợ

Dù cả đời Valloton không ngừng miêu tả những đường cong cơ thể phụ nữ, nhưng đối với ông chúng mãi vẫn là bí ẩn. Trên toile, ông tóm bắt, ông dò xét, lột quần áo và soi mói chúng ở mọi góc cạnh. Cái cơ thể khác lạ hấp dẫn kia khiến ông vừa say mê vừa sợ hãi. Qua các bức tranh thị nữ ông vẽ vừa phá cách vừa khiêu khích, đàn bà sở hữu đủ thứ: lúc thì lạnh lùng, lúc thì gợi dục, lúc lại nguy hiểm, quyến rũ và mong manh… nhưng luôn luôn hấp dẫn. Valloton không bỏ qua chủ đề khỏa thân tắm táp, một chủ đề khá “top” trong lịch sử nghệ thuật. Theo chân các họa sĩ ấn tượng và nhóm Nabis, ông quan sát phụ nữ trong những cử động riêng tư đời thường, nhưng thêm vào đó một chút lạ lùng, một chút hài hước. Như cô gái tóc đỏ đang vấn tóc lên trong nhà tắm được miêu tả không “happy”, dù trông rất hồng hào và đầy đặn.

“Femme au bain se coiffant” (Người đàn bà vấn tóc khi tắm, 1897)

Hay bức Le Bain Turc (Nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ) vẽ năm 1907, dù trong một khung cảnh khá quen thuộc, nhưng thể hiện rất duyên dáng. Bức này có cảm hứng từ kiệt tác của Ingres mà ông đã chiêm ngưỡng năm 1905, xúc động đến chảy nước mắt, nhân dịp tưởng nhớ danh họa tại Grand Palais. Ông thú nhận với sự thán phục: “Chỉ riêng cách mà Ingres bo các đường nét đã khiến tôi cảm nhận ngay sự ấm nóng của cơ thể nữ và sức nặng của bầu vú”. Cũng vậy, bức Le bain Turc là sự triển khai các đường cong khiêu khích từ da thịt cho tới nhục cảm đã bị đóng băng.

Cũng như các họa sĩ Phục Hưng, Valloton cũng khai thác tính gợi dục ở chủ đề ngủ khỏa thân. Tuy nhiên, năm 1897, bức Femme nue assie dans un fauteuil rouge (Người đàn bà ngủ ngồi trên ghế bành đỏ) bị loại ra khỏi định nghĩa về sự gợi cảm: da thịt bị nặng nề, cơ thể thì gập khúc, ngực bị bẹp, còn cánh tay thì đơ thuỗn ra. Bức tranh này như một dạng thử nghiệm cấp tiến, tổng hợp các kinh nghiệm của Nabis với màu sắc phẳng, các đường bao đen, thiếu độ sâu, và sự đối lập giữa các đường cong và đường thẳng.

17 năm sau, bức Nu à l’écharpe verte (Khỏa thân với khăn choàng xanh) cũng lấy tương phản mạnh giữa đỏ và xanh lá, nhưng xử lý khỏa thân hoàn toàn khác. Dáng nằm uể oải giống các mỹ nhân trong tranh cổ điển, đường nét rất Ingres nhưng phần trang trí lại khá đương đại và lông nách thì phơi ra trắng trợn.

Những cặp đôi chơi đùa, nhảy múa hoặc chỉ nhìn nhau chằm chằm xuất hiện thường xuyên trên các tác phẩm của Valloton. Vừa gợi những lạc thú vừa gợi tính hai mặt của đàn bà. Trong bức Femmes nues aux chats – 1897 (Hai cô khỏa thân với mèo), vẽ thời vẫn còn ảnh hưởng phong cách Nabis, gối nệm thì lộn xộn, phía sau thấy cả một góc nhà tắm, trông như trong một nhà thổ. Hai cô gái, một tóc vàng một tóc nâu, trông như đang giải trí một chút giữa hai đợt khách. Vào những năm 1910, việc hai người đàn bà với nhau thế này còn gây mập mờ hơn nữa. Không khí ở đây nặng trĩu vì những thái độ căng cứng nào đó; có cái gì đó không liên quan và cả sự đối lập giữa hai nhân vật chính.

Cũng vậy, trong bức La blanche et la noir (Cô trắng và cô đen) vẽ năm 1913, có khoảng cách giữa hai nhân vật, nhưng tính hệ thống quen thuộc thì đã đảo chỗ: cô đen, mặc váy áo đeo trang sức, điếu thuốc trên môi, ngồi nhìn soi xét cô trắng khỏa thân đang ngủ ườn ra.

Đầu thế kỷ 20, Valloton vẽ liên tiếp những bức tranh phi lý, lấy cảm hứng từ thần thọai Hy lạp mà ông tự do diễn dịch theo phong cách Bocklin, một người thầy mà ông rất phục. Trong bức Roger delivrant Angélique (Roger giải cứu Angélique – 1907), nguời đẹp ngủ mê mệt trên cát, thờ ơ với trận chiến của Roger (người bảo trợ cô) với con rồng. Bị chế nhạo, bị tuớc danh hiệu anh hùng, đàn ông ở đây bị coi như đồ chơi của đàn bà.

Trong bức Orphée dépecé, thậm chí được cá nhân hóa bởi một đám các bà đang điên cuồng tấn công nhà thơ bằng những móng vuốt, dây gai và đá. Biểu tượng, chuyển dịch, hài hước, hay băng hoại… những hình ảnh lạ lùng này thời đó khiến người ta khó hiểu, nhưng cái nhìn của thời đại chúng ta có thể nắm bắt ở đó tính châm biếm và thẩm mỹ mà ngày nay ta có thể thấy ở các họa sĩ hậu hiện đại.

* phần lớn các bức tranh này đều thuộc các sưu tập của bảo tàng hoặc tư nhân ở Thụy Sĩ

(dịch và đăng trên Soi.today ngày 24/06/2015)

Câu chuyện màu xanh (lá cây)

Đó là màu của sinh thái, và cũng là màu của một số họa sĩ. Đứng thứ hai trong số các màu yêu thích của người Pháp, nhưng màu xanh lá cũng khiến nhiều diễn viên sợ hãi, và màu này không tồn tại trong tiếng Nhật.
Màu nào là màu yêu thích của bạn? Với câu hỏi kinh điển luôn được các viện nghiên cứu và thăm dò dư luận sử dụng để xác định sở thích của người tiêu dùng, màu xanh lá về vị trí thứ hai. Vâng, tất nhiên đứng sau màu xanh dương, nhưng đứng trước tất cả các màu còn lại. Ha! Một tin tức thật tuyệt dành cho màu xanh lá, sau một thời gian dài bị không ưa, bởi nó “không mâu thuẫn thì cũng mơ hồ”, như nhà sử học Michel Pastoureau nhấn mạnh. Ông cũng vừa cho ra một cuốn sách về chủ đề này.

Trong bức tranh Retable du Saint-Esprit (1521) của Lorenzo Lotto, có một chi tiết quan trọng: đôi tất xanh của thánh Antoine (bìa phải). Màu xanh (lá) của trang phục… có thể gợi lên lòng từ bi và hiểu biết.

Làm sao định nghĩa cái màu nổi tiếng làm dịu mắt và tinh thần này?
Màu xanh lá là một trong ba màu cơ bản, cùng với màu xanh dương và đỏ, tạo thành ánh sáng trắng.

Nếu nhóm lại, theo lý thuyết về màu sắc (màu của một vật hình thành từ ánh sáng mà nó nhận và gửi đi), màu xanh lá đóng vai trò quan trọng.
Ngày nay cũng vẫn từ lý thuyết của thế kỷ 18, coi màu vàng là màu cơ bản thứ ba, giáng màu xanh lá xuống hàng phụ là khá phổ biến. Ở phương Tây trước đây hay lẫn lộn màu xanh lá với màu vàng, nguời Hy Lạp thì dùng chung từ: khlôros để chỉ cả hai màu, trước khi người La Mã tách ra với viridis, cũng có nghĩa là thiên nhiên.
Nhưng ở một số nước châu Á, từ “xanh” không có nghĩa là màu xanh dương (bleu), mà nó có nhiều nghĩa, ví dụ như ở Thái Lan, từ “xanh”còn có nghĩa là hôi!
Giới nghệ thuật cũng không tỏ ra dịu dàng lắm với màu xanh lá. Đối với nhiều họa sĩ, cái màu này gây nhiều phiền toái về kỹ thuật. Chất màu khó xác định, khó làm việc, màu có vấn đề với ánh sáng.
Còn màu xanh khoáng (vert mineral) thì quá đắt, trong khi một số tông xanh khác ra đuợc nhờ trộn hóa chất thì lại độc hại. Chẳng hạn, giới diễn viên nhà hát rất ác cảm với màu xanh lá, vì để hào nhoáng một tý, trang phục sân khấu thường được nhuộm với oxyde đồng hoặc cyanure, độc tới mức có thể gây chết người . Từ thời Trung cổ, các họa sĩ thường dùng màu xanh lá một cách cảnh giác, ngay cả những người đã thành thạo với màu xanh lá như Giorgione hoặc Véronèse, nổi tiếng với các bức tranh vẽ gấm vóc xanh lè.

Trong bức “Miniature du Codex Capodilista” (khoảng 1435 – 1440) của Federico Carlotis: thời Trung cổ, trong các lễ rước, các ceremonie thì ngựa thường được khoác một tấm bố xanh, màu của tuổi trẻ và tình yêu (theo ký hiệu của giới hiệp sĩ)

Các nghệ sĩ thường hoài nghi về ý nghĩa rối rắm của màu xanh lá. Chất màu và những khó khăn vốn có khi pha chế nó có nguồn gốc từ sự mâu thuẫn có tính biểu tượng: bất thường, ngẫu nhiên, không ổn định. Nó có thể kết hợp một cách ngẫu nhiên tùy theo may rủi, với hy vọng cũng nhiều như thất vọng. Nó cũng là màu của những quái vật hay sinh vật ma quái: những mụ phù thủy, những “bà xanh” trong rừng, những hiệp sĩ xanh reo rắc sự rối loạn, con quỉ với con rắn trong lu, rồi rồng, cá sấu… Liệu có cần nhắc lại là màu xanh lá là màu của những cơ thể bệnh tật hoặc cái chết?

Màu xanh trong khu rừng của phim hoạt hình “Mononoke”

Đầu tiên là những người theo chủ nghĩa Lãng mạn kích thích những cảm xúc tự nhiên, tiếp đến là những người theo chủ nghĩa Ấn tượng, lấy lại chút uy tín cho màu xanh lá.

Tranh của Claude Monet

Cách đây chưa lâu, những người trung thành với phái Bauhaus còn khoác lên các bức khỏa thân 3 màu: đỏ, xanh dương, vàng; không có xanh lá! Kandinsky thì nhấn mạnh trong tác phẩm Du spirituel dans l’art et dans la peinture en particulier (1911 – “Về trí tuệ trong nghệ thuật và trong hội họa nói riêng”), trong đó ông tả màu xanh lá như “màu gây tê nhất” và “như trong xã hội tư sản: đó là một yếu tố bất biến, hài lòng về cái tôi, bị giới hạn trên mọi hướng”, “như một chị bò sữa to đùng, dồi dào sức khỏe, sinh con, rồi bị đông lạnh, chỉ có mỗi khả năng nhai lại”. Mondrian bồi thêm cú nữa: họa sĩ thú nhận căm ghét màu xanh lá và không bao giờ dùng nó.
Lời chào đón vậy là phải đến từ một lĩnh vực khác: từ y học và các vấn đề an toàn vệ sinh, bắt đầu biểu hiện trong thế kỷ 20. Với những đợt nghỉ phép có lương đầu tiên, xã hội đã cảm nhận được nhu cầu trở về tự nhiên để hồi phục, cách xa những khối nhà xám xịt. Trong thập niên 30, nhiều chính phủ đã ưu tiên cho những khoảng xanh, công viên, quảng trường.. trong khi các bác sĩ nhấn mạnh tầm quan trọng của những hoạt động ngoài trời. Màu xanh lá trở thành màu tiết kiệm và bước vào một giai đoạn may mắn. Nó phủ lên cuộc sống, từ chính trị cho tới cuộc sống hàng ngày: kiến trúc xanh, không gian xanh, hành lang xanh, năng lượng xanh, ôtô xanh..

Với sự ra đời của tổ chức Green Peace năm 1971, màu xanh lá thậm chí trở thành một ý thức hệ.
“Đúng là gió đổi chiều đối với một màu lâu nay không được ưa như màu xanh lá, màu mà ngay nay đang gánh sứ mệnh bất khả thi để cứu hành tinh” – Michel Pastoureau hóm hỉnh.
Và màu xanh lá cũng trở lại trong các sáng tạo đương đại. Fabrice Hyber đang rất say sưa với màu xanh lá. Ngay từ triển lãm đầu tiên mang tên Mutation vào năm 1986 ở Nantes, anh đã chọn màu xanh lá là màu ưu tiên, một màu xanh flashy, màu của mầm non mùa xuân, cái thời điểm mà năng lượng đang rất phấn khích. Trong tác phẩm “Hommes de Bessines” của anh, những hình người 87 cm mọc lên khắp nơi trên trái đất kể từ khi chúng được sinh ra năm 1989.

Màu sinh thái cũng được một số họa sĩ trực tiếp sử dụng, như Lois Weinberger, khi làm việc trên khái niệm thảm thực vật tự nhiên. Những đám cỏ dại mọc ở nơi chúng thấy thích hợp. Một cách để nghệ sĩ thăm dò về quá trình lai hóa, thực dân hóa, di cư… Năm 2012, phía sau nhà ga ở Rennes, anh đã cho đặt hàng ngàn chiếc xô nhựa đựng đầy đất, phơi giữa trời cho gió, cho chim….

Lois Weinberger chẳng gieo hạt gì vào đó nhưng cỏ vẫn mọc lên. Chỉ cần thời gian là nó sẽ um tùm hết các xô nhựa.
Màu xanh bắt đầu chiếm lĩnh tất cả các không gian đô thị, từ đất lên tường của thành phố, nơi giờ mọc lên các sáng tác của Patrick Blanc. Người đàn ông với tóc mái xanh, người sáng tạo ra những bức tường xanh, tự hiện thân cho thái độ xanh (green attitude) của mình. Anh hình dung ra những khu vườn thẳng đứng phủ lên các tòa nhà, bảo tàng, như hình ảnh của Quai Branly.
Trong khi đó, Thomas Struth lại gắn màu xanh lá với một cách nhìn mơ mộng và lý tưởng hóa về thiên nhiên. Trong series New pictures from Paradise, nhiếp ảnh gia người Đức này trình ra một chốn rất bình dị và không cho biết chụp ở đâu: Trung Quốc, Brazil, Nhật, California, hay Đức… Những khu rừng nguyên sinh, dày đặc, yên tĩnh, rực rỡ khi ánh sáng chớm tới,. hứa hẹn một thiên đường không bao giờ mất. Hiện thân cho một thế giới tốt hơn, lành mạnh hơn, công bằng hơn, màu xanh lá có vẻ vẫn còn nhiều ngày đẹp trời phía trước.

Thomas Struth, “New pictures from Paradise”

dịch và đăng trên Soi.today ngày 23/12/2013