Khen và chê quanh Modigliani

Nhân triển lãm Modigliani et l’Ecole de Paris ở Thụy Sĩ (từ 21. 6 đến 24. 11), tạp chí Mỹ thuật Pháp số mới nhất có bài viết sau:

Cũng như Chagall, Soutine hay Utrillo, Modigliani (1884- 1920) là một trong những nghệ sĩ có phong cách riêng hiện đại mà người ta chả biết xếp vào đâu. Người thì cho là ông thuộc nhóm các nhà cách tân (avant-garde), người lại nói ông thuộc phong cách cổ điển kiểu Ingres. Chàng nghệ sĩ Do Thái đến từ Livourne (Toscane) là hiện thân của mẫu họa sĩ bạc mệnh.

Sở hữu vẻ đẹp của vùng Địa Trung Hải, nhưng sức khỏe lại rất mong manh, Amedeo tới Paris lúc 22 tuổi và chết vì bệnh lao phổi lúc mới 35 tuổi. Hai ngày sau, người tình của ông nhảy lầu tự tử chết theo, lúc đó nàng đang mang thai đứa con thứ hai. 13 năm đủ để dệt nên một huyền thọai với những tình tiết đôi khi hơi ma mị, từ chuyên khảo đầu tiên của André Salmon năm 1926, lại càng dầy thêm những vùng mờ ảo trong câu chuyện về Modigliani. Khi thì chơi với nhóm Dã thú, lúc có mặt ở Bateau-Lavoir, nơi ra đời trường phái Lập thể, lúc lại thấy loáng thoáng bên hội Vị lai; Modigliani có vẻ không hứng thú gì với avant-garde. Nghệ thuật của ông có nét nguyên thủy, nhưng ông kiên định đi trên một con đường đơn độc, nơi những đôi mắt hình hạnh nhân, những chiếc cổ kéo dài trong những bức chân dung như tiếng vọng từ bên trong những chiếc mặt nạ châu Phi, hay những bức tranh của Parmesan hoặc Pontormo.

Trung thành với khuôn mặt người, chàng họa sĩ đẹp trai vẽ các bức chân dung và khỏa thân khá nhiều, tới mức triển lãm đầu tiên năm 1917 phải đóng cửa. Paul Alexandre và Leopold Zborowski là những nhà bảo trợ hiếm hoi cho nghệ sĩ này, và thành công đến với Modigliani một cách rụt rè vào năm 1914 với một tác phẩm điêu khắc.

Người ta nghĩ gì về chàng nghệ sĩ thích bình thơ của Dante và Verlaine này? Đối với Vlaminck và Cocteau “đó là một chàng quí tộc mà tạo hình của anh có một vẻ lịch lãm không chê vào đâu được”. Picasso thì bực mình khi cứ phải nghe câu “Modi le maudit” nên đã mua một bức của Modigliani rồi sau đó vẽ thẳng lên đó một tranh tĩnh vật. Nhưng một trong những phê bình cay nghiệt nhất lại chính từ người đồng hương, De Chirico. Trong hồi ký của mình,vị này ám chỉ “một thiên tài kiệt sức – kiểu Modigliani – trên một căn gác lạnh lẽo, khổ sở vì trung thành với lý tưởng cao cả, mơ màng một tuyệt tác mang cho mình danh vọng và tiền tài, nhưng cái tuyệt tác thường lại chỉ là miếng vỏ bánh giòn ngon miệng, như tất cả các chân dung và hình thể của Modigliani”.

Một phong cách lịch lãm buồn bã (Elégance mélancolique), hay một phong cách kiểu cách đơn điệu (manièrisme monotone)? Mời các bạn cùng thảo luận.

Có hai luồng ý kiến trái chiều sau:

Ủng hộ(của Stéphane Guégan – nhà sử học và phê bình mỹ thuật Pháp):

Nói “Có” với Modigliani, chính là thưởng thức không ngừng những chuyển động tinh tế của ông. Nói “Không” với Modigliani, tức là mắt bị đơ rồi, cũng giống sự khô cứng cũ rích kiểu phê bình Pháp. Cũng chả khác gì kiểu bịt miệng bịt tai Max Jacob, Appollinaire, Cocteau và Roger Fry, nếu không muốn dẫn thêm cả Le Clézio nữa.

Những nét thơ mộng tinh tế, những đuờng cong thần kỳ của một phong cách nghệ thuật hiện đại mà không chắp vá các thủ thuật của avant-garde. Một nghệ sĩ lớn lên từ sự dịu dàng của vùng Toscanes tự nhiên phải đương đầu với các thiên tài Paris đang nổi, Cezanne, Gauguin, Van Gogh, Toulouse-Lautrec và người đứng đầu lúc đó là Picasso. Cái nôi Ecole de Paris ấy đang ngập trong nhạt nhẽo, những thỏa hiệp hiện đại. Còn Modigliani, mang trong mình trái tim Florence và bóng dáng Venice, đã từ chối hiến Carpaccio và Bellini, thậm chí cả những đường nét gây hấn của Parmesan cho những sai khiến lúc đó. Trọng ý chứ không trọng từ, trọng nghĩa chứ không trọng nguyên tắc, đó là cái mà ông học được từ Nietzsche và Annunzio, Baudelaire hay Lautréamont. Chàng người Ý đã Pháp trước cả khi đặt chân tới thủ đô của nghệ thuật năm 1906.

Chuyển động đầu tiên, bức Nàng Do Thái (La Juive) năm 1908, đầy gợi cảm trong nỗi đau thống thiết, tranh còn ướt những vệt xanh của Picasso (khi ông này vẽ đè lên trước đó)*. Chuyển động tiếp, bức chân dung Juan Gris, lập thể theo một cách khác, hòa hợp những cách điệu tuyệt vời và đôi mắt đen.
Nàng Do Thái

Chuyển động cuối cùng, chân dung Max Jacob, người ta chưa bao giờ nắm bắt được người mẫu, tính hai mặt (double nature) của apache thế gian, hay một kiểu kabbalist converti, bị giằng xé giữa thánh đuờng Jerusalem và những khoái lạc trần gian.
Chân dung Max Jacob

Modigliani có một phong cách rất riêng, và uyển chuyển, nhất là ở những bức tranh cuối cùng, có lẽ là những bức tuyệt nhất.

Chủ nghĩa hiện đại đã định tặng ông một bữa tiệc phù hoa, nơi mà luật của cái mới không giấu nổi những sự phá sản của thế kỷ.

Ngoài Picasso và Matisse, ai khác có thể phản ứng nhanh đến thế với những cảnh báo của Appollinaire? Sự biến dần của tranh khỏa thân như một dấu hiệu của sự suy tàn nói chung. “Những nghệ sĩ trẻ bây giờ chả quan tâm đến Art khỏa thân, cái chính đáng hơn bất kỳ cái gì khác”.

Nếu bắt Appollinaire phải nói dối, thì những bức khỏa thân gắn với tên tuổi Modigliani kia chắc là đang chế nhạo tầng trời thứ 7, tầng của các họa sĩ vĩ đại nhất.
“Nu Couché au coussin Bleu”, 1916, sơn dầu trên canvas.

Không ủng hộ: (của Thomas Schlesser, nhà báo, nghiên cứu sử nghệ thuật):

Nào, giờ thì hãy mở to mắt ra một tí. Hãy xem chính tác phẩm của Amadeo đi, cũng chả phải khó chịu gì, nhưng những cái xung quanh nó thì sao. Rõ ràng, khi mà Kandinsky, Picasso, Mondriant, Klimt hay Boccioni đang đầy táo bạo, cuồng nhiệt, thì chàng họa sĩ này lại chứng tỏ một sự yếu đuối, ủy mị gần như bối rối.

Thờ ơ với Modigliani, không phải là khinh thường những tư chất cảm động nơi ông, mà đúng hơn là ghi nhận cái “lỗi không may mắn”. Ông mất ở tuổi 35. Ông có ít cơ hội để thể hiện tài năng. Cái thời đó, từ 1905 đến 1920, khi châu lục đang rung lên với sự phong phú về trí tuệ và thẩm mỹ, với những sáng tạo cuồng nhiệt. Khó mà thấy lại trong lịch sử. Có lẽ đó là một chu kỳ tinh hoa tuyệt vời duy nhất, những năm 1500-1520 qua đầu thế kỷ 20, toàn các thiên tài nghệ thuật (sự so sánh giữa hai giai đoạn này tốn khá nhiều giấy mực của giới phê bình ở châu Âu, khoảng cách 4 thế kỷ, đáng được phân tích kỹ càng).

Modigliani làm gì vào lúc nguyên tử được phát hiện, sự lan truyền tư tưởng Nietzsche, rồi chiến tranh thế giới, âm nhạc điện tử, những niềm hy vọng Mác-xít, những cạm bẫy độc tài, rồi tâm thần học sơ khai..? Vâng, những bức chân dung, những tranh khỏa thân, rất dễ thương, rất cảm động, rất bi ai… Ông ấy còn có khiếu đối với phong cách nguyên thủy nữa chứ! Vâng, những hình thể xinh đẹp, màu sắc hài hòa, nào nâu, nào hồng, nào xanh, thật tuyệt phải không? Người ta xem tranh ông, rồi ước ao trở thành người mẫu cho ông vẽ, rồi ra về với hình nộm của mình, với đôi mắt trống rỗng, cái cổ mảnh mai, đôi vai rũ xuống… Tuyệt nhỉ, nhưng thật buồn cười!
Tại sao các hướng dẫn ở trường đại học, các nghiên cứu sắc nét nhất, các khóa học ở các chuyên khoa… lại chỉ dành một vị trí phụ, một vị trí chiếu cố cho Modigliani? Bởi vì, đơn giản là ông ấy không phải ở tầm cao của thời đại mình! Một ví dụ nhé: cái vụ scandale vẻ vang của ông ấy, thật ngon lành phải không, Modi lẽ ra phải cảm ơn sự can thiệp của cảnh sát, và của gallery Berth Weill, nơi ông trưng ra những phụ nữ cởi truồng thấy cả lông mu, trong khi biết bao người đang ngã xuống chiến trường. Lúc đó Modi 33 tuổi và sự kiểm duyệt ấy thật lý tưởng để nuôi dưỡng hình ảnh của một nhà sáng tạo bị nguyền rủa (créateur maudit). Hãy xem trước đó Otto Dix làm gì, (chiến tranh, đó cũng là một sự nguyền rủa tàn bạo chả khác gì việc di cư đến Montparnasse), người Nga thì đang hỗn loạn trong cuộc cách mạng, Egon Schiele thì đang quay trong vòng xoáy địa ngục ở Vienne, thế mà bạn lại cho rằng: cái ông Modigliani này làm xúc động quá, rồi nào là họa sĩ lớn nữa! Họa sĩ dành cho các salon sang trọng của những người có gu, hay là cho các cuộc triển lãm thành công ạ?

(dịch và đăng trên Soi.today ngày 2/7/2013)

Sưu tầm từ nguồn khác:

1. Là hai họa sĩ cùng thời, Picasso lớn hơn Modi 3 tuổi. Picasso ưa cạnh tranh nếu không muốn dùng từ kiêu ngạo, ông luôn hăng hái thể hiện mình là số 1 của Ecole de Paris, trong khi Modigliani thì tính châm biếm chua cay hơn. (Ở đoạn đầu phim cùng tên, Modi hỏi Picasso: “Ông làm tình với cái khối lập thể thế nào? ‘(How do you make love to a cube?). Picasso thì luôn sống trong vinh quang, giàu sang, sống lâu, còn Modigliani thì thường bị ngèo khó và bệnh tật đeo đuổi, và chết trẻ. Mặc dù có sự khâm phục ngầm đối với Modigliani, nhưng Picasso cũng khoái khích bác và hay lôi Modi vào cuộc. Cả hai họa sĩ cũng đã từng vẽ nhau. Cả hai cũng đều có mối quan tâm với nghệ thuật Phi châu và có những ảnh hưởng trong các tác phẩm của mình. Đã có phim về chủ đề này, phim tên “Modigliani” (2004). Theo câu chuyện trong phim, vào buổi tối khi Modi chết, Picasso gửi lời chia buồn với Jeanne (nguời tình của Modi) và cô nói với Picasso rằng: khi nào ông chết, tên của Modi sẽ ở trên miệng ông. Và ở cảnh kết phim có ghi rằng đó là sự thực: khi Picasso chết, ông đã thì thào gọi tên Modigliani! (Các bạn có thể xem phim ở đây)

2. Modigliani không coi là mình bất hạnh. Bạn ông, Chaim Soutine từng hỏi: “Anh có phải chịu nỗi bất hạnh lớn lao nào trong đời không” thì Modigliani trả lời “không”. Còn theo lời kể của nhà điêu khắc Jacques Lipchitz, Amedeo Modigliani đã từng nói rằng chàng ước muốn “một đời sống ngắn ngủi nhưng mãnh liệt”.

Không thành công trong việc bán tranh lúc còn sống, chàng họa sĩ thường đùa rằng: “Tôi chỉ có mỗi một khách hàng mà ông ấy lại mù”. Người bị ám chỉ ở đây là nhà buôn tranh Père Angely.

Sau khi Modigliani chết, có hai đám tang đã được tổ chức, đám thứ nhất do một tu sĩ Do Thái cầu kinh và nhà danh họa bạc mệnh được chôn cất trong nghĩa trang Père Lachaise (Paris), còn đám thứ hai, đơn giản hơn, của người vợ xấu số, chôn bên ngoài thành Paris. Gia đình Hébuterne phản đối cuộc hôn nhân của con gái mình với một người Do Thái, nên đã không cho hai kẻ yêu nhau được an táng cạnh nhau. Tới năm 1923, người anh cả của họa sĩ Amedeo Modigliani là Thượng nghị sĩ Emmanuele Modigliani đã thuyết phục được gia đình Hébuterne cho cải táng di cốt của Jeanne và chôn bên cạnh người chồng bạc mệnh

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly

Khi nào thức tỉnh ?

(15/9/2018) Vừa xem xong phim Son of Saul (con trai của Saul), một phim về diệt chủng Do Thái của đạo diễn Laszló Nemes Hungary, giải Oscar phim nước ngoài hay nhất năm 2016. Phim được đánh giá cao nhờ góc nhìn mới về một chủ đề cũ, cách tiếp cận và cách dẫn chuyện lôi cuốn.
Xem để thấy rằng một chế độ tàn ác bóp méo con người như nào, tước đoạt lương tri, trấn lột nhân phẩm và sinh ra những quái thai, những con người vô tri ra sao…
Sự tàn ác và khủng bố tinh thần đã gieo rắc nỗi kinh hoàng bóp nghẹt hơi thở của hàng vạn con người, làm biến đổi gương mặt họ, tâm trí họ, khi cảm xúc bị tê liệt họ hành động như cái máy, không suy nghĩ được gì ngoài vài phản ứng bản năng. Cuộc sống cứ thế trôi đi, những hy vọng sống sót le lói dù chỉ thêm được vài tháng, vài ngày, thậm chí vài giờ … cũng đẩy người ta hành động như những con rối . Một cựu tù nhân của Auschwitz từng nói: « chúng tôi lúc đó như con vật, không nghĩ gì được, chỉ cố gắng sao sống sót qua cơn ác mộng, và cố tìm cách thoát ra bên ngoài bằng mọi cách ».

Thật khó để so sánh với hàng chục phim cùng đề tài mình đã từng xem như : Cuộc sống tươi đẹp, Người chơi đàn dương cầm, Bản danh sách Schindler, Cậu bé mặc bộ pijama kẻ sọc, Shoah, Chuyến tàu cuối cùng tới Auschwitz…, bởi mỗi phim là một góc nhìn khác về Holocaust, một cách kể chuyện khác, một thông điệp khác . Khó nói phim nào hơn phim nào…
Chả hạn như trong phim Son of Saul, cảnh đầu cảnh cuối mình không có ấn tượng gì nhưng lại rất ấn tượng với một cảnh đoạn giữa, khi tên sĩ quan SS ra lệnh cho đội trưởng nhóm dọn xác phải đưa cho hắn bản danh sách loại ra 70 người trong nhóm, có nghĩa là 70 người trong đội đó sẽ phải chết vào ngày mai. Viên đội trưởng buộc phải ngồi xuống bàn và ánh mắt anh gặp ánh mắt Saul, một nhân viên làm việc trong đội, lúc đó đang phải dọn dẹp trong phòng. Trong một tình thế trớ trêu của cuộc sống, những ánh mắt không lời nào tả xiết …
Xem phim Con trai của Saul cũng để thấy , ngay cả trong những thời khắc kinh hoàng nhất, lương tri con người vẫn le lói âm ỉ chờ dịp bùng lên..

một cảnh trong phim Son of Saul

Hay ở đoạn kết của phim Cậu bé mặc pijama kẻ sọc, cảnh cuối là một cảnh gai óc, nơi có tiếng gào thảm thiết của người mẹ trẻ, có ánh mắt tê dại của người cha trong cơn tỉnh ngộ muộn màng… những giọt mưa nặng khói xám u uất rơi xuống mặt đất lầy lội bùn như những vũng máu khô quánh không gì cứu vãn …
Đông Tây gặp nhau trong cách nhìn về cái ác. Nhân quả có con đường đi của riêng nó . Sự thật có cách lên tiếng của nó, dù bị đàn áp.
Hãm hại người khác, cố tình làm tổn hại đến cuộc sống của người khác, cũng chính là một cách (dù gián tiếp) đẩy cuộc sống của con cái và gia đình mình vào nguy hiểm.

phân đoạn cuối trong phim The Boy in stripped pijama

Một cảnh nữa rất ấn tượng về đề tài này nằm ở phim Người Chơi đàn dương cầm của đạo diễn Ba Lan Polanski. Đó là cảnh gần cuối phim, khi nhân vật sĩ quan SS, trong giờ phút cuối của chiến tranh, mơ hồ nhận ra thiện-ác, đã có một hành động nhân đạo cung cấp thức ăn cho một người Do Thái trốn trên gác xép, trước khi quân Đồng minh tiến vào thành phố. Trong nỗi sợ hãi và áp lực đe doạ tính mạng, trong nỗi hoang mang và gần như tuyệt vọng về tương lai, giai điệu của hy vọng vẫn ngân lên dưới đôi bàn tay run rẩy của một con người đang chống chọi với đói, khát, lạnh lẽo, và với cái chết …
Người Do Thái sống sót này là nghệ sĩ piano, sau đó cố tìm lại viên sĩ quan kia để cảm ơn, nhưng đã không có cơ duyên gặp lại. Cảnh viên sĩ quan SS bị bắt, ngồi sau hàng rào thép gai trong trại tập trung, nhớn nhác tìm người cứu mình, nhưng đã muộn. Hình ảnh hàng rào mỏng manh mờ ảo trong ráng chiều chia ra một khoảng cách vời vợi giữa hai bên, giữa hai tư tưởng khác biệt. Làm hàng rào kẽm gai hoá ra cuối cùng để rào chính mình, và khi đứng bên trong đó, tất cả sự oai vệ quyền lực của một kẻ từng quyết định mạng sống hàng ngàn người khác cũng bay biến, chỉ còn lại sự thảm hại của một thân xác vô minh.

cảnh gần cuối trong phim Người chơi đàn dương cầm

Thế mới thấy tư tưởng con người quan trọng biết bao trong cuộc sống .
Nếu bạn nhầm lẫn một món hàng, bạn mất ít tiền. Nếu bạn chọn nhầm một nghề nghiệp, bạn có thể mất 5 năm. Cuới nhầm người, bạn có thể mất 10-15 năm. Nhưng nếu nhầm lẫn về tư tưởng, nó có thể dẫn người ta đi xa, rất xa, quá xa, thậm chí không tài nào trở lại được nữa…

Kể cũng hài, Hitler muốn tận diệt Do Thái và lập ra cái gọi là « giải pháp tối hậu về vấn đề Do Thái » và muốn thực hiện triệt để. Hàng triệu triệu đô la đã được đầu tư cho một hệ thống tàn sát khổng lồ khắp nước Đức và nhiều quốc gia bị Đức chiếm đóng lúc đó.
Tuy nhiên, Hitler không tài nào nhận được sự hợp tác triệt để như hắn mong muốn. Nhiều nước ở châu Âu trong đó có cả các nước còn chịu sự cai quản của Đức đã không thực hiện lệnh trục xuất người Do Thái như Hitler mong đợi : Đan Mạch, Bulgari, Phần Lan, Nauy, Ý, Bồ Đào Nha, Bỉ, Pháp, Ba Lan… những nước đã cứu mạng hàng trăm ngàn người Do Thái thoát khỏi cái chết. Và thậm chí cả trong lòng nước Đức trong cơn say huỷ diệt, vẫn có những dòng chống đối ngấm ngầm chờ cơ hội (phim Bản danh sách Schindller). Bởi vậy, kế hoạch tận diệt người Do của Hitler không bao giờ thực hiện đc, bởi « người tính không bằng Trời tính ». Hitler tự cho mình thông minh, nhưng lại ko hiểu đc điều cơ bản là những hành động phi nhân tự nó luôn sinh ra các năng lượng tiêu cực và sẽ quật lại chính chủ nhân của nó vào lúc « gần tới vinh quang ».

Tuy nhiên, phải nói luôn là trong danh sách những kẻ giết người nhiều nhất thế giới thì Hitler chưa phải đại gia, hic.. Mức độ khủng khiếp và tàn bạo vẫn chưa đua được với Mao Trạch Đông và Stalin. Những con số thông kê khiến người ta phải giật mình.
Theo các thống kê quốc tế, trong giai đoạn từ năm 1946 đến 1976, chính sách Đại Nhảy Vọt của Mao đã giết 70 triệu mạng, đưa Mao lên top đầu thế giới trong danh sách giết người. Tiếp bước là Stalin của Nga với tội ác sát hại khoảng 60 triệu mạng. Những hình ảnh lung linh của Hồng quân Liên Xô đã bốc khói ngay sau khi giải phóng Đức bằng các cuộc cướp bóc, hãm hiếp, trả thù… liên tiếp dẫn tới cái chết của hàng chục triệu người ở châu Âu, giúp Stalin đứng hàng thứ hai trong danh sách quái vật ăn thịt người, trên cả Hitler (17 triệu mạng) !!! Dân Do Thái, Nga, Đức, Ba Lan… kể cũng khổ, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, vừa thoát nạn Đức quốc xã lại sa vào lưới của Stalin. Các trại tù khổ sai do Stalin lập nên để hành hạ con nguời cũng chỉ thua Hitler chút xíu . Kết thúc thì đều là cái chết !

Khi nào thì con người ta thức tỉnh ? Chỉ khi gần thua ? Chỉ khi sắp bại ?
Hitler, Stalin có thức tỉnh trước khi chết ?

Chợt nhớ tới bài hát nổi tiếng « Blowing in the wind » của Bob Dylan từ thập niên 70 :
Cần có bao nhiêu tai để nghe thấy tiếng kêu khóc ?
Cần đi qua bao nhiêu con đường để được gọi là Con Người ???

…….

Nửa thế kỷ trước, những lời này đã vang lên, vang lên …

Những câu quote yêu thích

  1. Ảo tưởng là thức ăn của Tình yêu – Victor Hugo
  2. Nền không chắc mà tường cao thì sự sụp đổ nằm sẵn nơi đó rồi (khuyết danh)
  3. Ghen ghét thường gây tai họa cho bản thân hơn là cho người bị ghen ghét (Alexandre Dumas)
  4. Thời gian không đo lường bằng năm tháng mà bằng những gì chúng ta làm được (H.Cason)
  5. Quả trên mặt đất mọc lên nhờ những thứ thối rữa dưới mặt đất (Charles Dickens)
  6. Con người sở dĩ bất hạnh vì con người ở trong phúc mà không biết đấy là phúc. ( Dostoevsky)
  7. Ở những nơi nhiều dục (kể cả sắc dục lẫn các loại dục vọng), ma quỷ tụ rất đông. Dục tăng thì phước giảm. (V)
  8. Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất. (Platon)
  9. Trước khi bao dung thì hãy trung thực đã (Winston Churchill)
  10. Đạo Trời không tranh mà khéo thắng ( Lão Tử)
  11. Bất cứ ai cố gắng kéo bạn xuống đều ở phía dưới bạn. (st)
  12. Khi bầu trời tối đến một mức độ nhất định, các vì sao sẽ tỏa sáng (st)
  13. Phú quý lòng hơn phú quý danh (Nguyễn Trãi)
  14. Tình yêu là một tuyệt tác của Thượng đế. Lừa tình là một công trình vĩ đại của loài người (st)
  15. Chúng ta nắm giữ vận mệnh của chính mình chứ không phải các vì sao (William Shakespeare )
  16. Điều đếm được không nhất thiết đáng kể; điều đáng kể không nhất thiết đếm được (Albert Einstein)
  17. Bí quyết để sống hạnh phúc là biết chờ đợi hạnh phúc của mình (H.Riviere)

18. Sự ngắn gọn là linh hồn của trí khôn sắc sảo (Shakespear)

19. Nếu bạn muốn tìm ra các bí mật của vũ trụ, hãy suy nghĩ về khía cạnh năng lượng, tần số và sự rung động. (Nicolas Tesla)

20. Niềm vui sang trọng nhất là niềm vui của sự hiểu biết (Leonard da Vinci)

21. Tất cả nghệ thuật là ở chỗ làm sao giữ được sự cân bằng, chứ quá lên là nguy – Nguyễn Huy Thiệp

Francis Bacon trong con mắt các nhà văn

15/10/2020 – Nhân dịp triển lãm Francis Bacon tại Trung tâm Pompidou hồi đầu năm, nhà văn-nhà phê bình nghệ thuật Frank Maubert có cuộc trò chuyện với kênh France-Culture về cuộc gặp gỡ với danh hoạ Francis Bacon.

Xin chào Frank Maubert, cảm ơn đã đến với chương trình. Anh đã viết về những cuộc trò chuyện với Bacon trong một cuốn sách nhỏ được nhà xuất bản Gallimard ấn hành.Ông ấy ưa thích nói về những chủ đề gì ?

F.M : Thực sự là Bacon thích nói về mọi thứ. Tôi khá ngạc nhiên ngay những lần đầu gặp gỡ, ông ấy nói về mọi thứ một cách rất đơn giản. Điều tôi rất phục ở ông ấy là dù thế nào ông ấy cũng rất yêu cuộc sống. Và ông hầu như là tránh nói về tranh pháo.

– Các anh đã nói chuyện về mọi thứ và cùng trải nghiệm một số thứ, thậm chí cả đi chơi, ăn nhậu cùng nhau.. Ông ấy xem ra là một người rất thích thưởng thức cuộc sống (un bon-vivant). Người ta hay nhắc đến sự nghiện rượu của ông ấy. Chắc ông ấy cũng từng tâm sự với anh về điều đó.. Có thể đó chỉ là kiểu như một món ưa thích hay có thể do một sự phiền muộn nào đó trong cuộc sống ?

F.M : Ồ không, chắc không phải do phiền muộn đâu. Nếu có phiền muộn thì rượu đã giúp ông ấy quên đi rồi còn gì. Nhất là khi vẽ ông ấy không uống rượu đâu, ông ấy bảo khi vẽ ông thường uống nước suối cơ, rượu chả giúp gì sất.

– Anh tin thế chứ ?

F.M : Vâng, khi ông ấy nói vậy thì tôi cũng cố tin (cười)

– Anh có nói là hai người đã có nhiều thời gian cùng nhau, nhưng hình như anh chưa bao giờ tận mắt thấy ông ấy vẽ phải không ?

F.M : Tôi tin rằng có rất ít người thực sự chứng kiến lúc ông ấy sáng tác. Thậm chí đôi khi tôi cũng có những ý nghĩ khùng khùng là chả hiểu có phải chính ông ấy đã làm ra các bức họa đó không nữa (cười). Đùa thế chứ tất nhiên là ông ấy rồi. Vì có một họa sĩ Maroc tên là Yacoubi đã tận mắt thấy ông ấy vẽ, và cũng nhiều người nói với tôi về điều đó.

– Francis Bacon – một họa sĩ không bao giờ cạn kiệt cảm xúc, như anh mô tả, đã từng nói: « dù gì thì người ta cũng không thể bàn về hội hoạ. Chả ích gì ! Nghệ thuật là một thứ luôn luôn dở dang ». Bacon cũng không thích người ta bàn luận về tranh của ông ấy. Ông ấy thường từ chối giải thích về tranh của mình. Phải chăng đó là khả năng duy nhất để nói về nghệ thuật của ông ấy ?

F.M : Duy nhất hay không thì tôi không biết. Nhưng có lần tôi đi gặp ông ấy với tư cách nhà báo để tìm hiểu một số điều mấu chốt trong hội hoạ của ông ấy. Ông ấy rất kiệm lời, bởi ông ấy cho rằng hội hoạ là một chốn bí ẩn và mỗi người đều tìm thấy ở đó một phần của mình, thế nên không phải ông ấy là người phải giải thích cái quái gì.

– Vì sao anh muốn gặp Bacon ? Anh đã từng nài nỉ để gặp ông ấy bằng được phải không ?

F.M : Lần đầu tiên tôi phát hiện một bức của Bacon, không phải ở một galerie hay bảo tàng mà là ở điện ảnh, trong một bộ phim đen-trắng ở Paris… Tôi đã thấy hình ảnh một người đàn ông khoả thân vặn vẹo dày vò.. Ngay khi nhìn thấy nó, tôi thực sự bị rung chuyển, và tôi muốn biết nhiều hơn, tôi tự nhủ tôi phải gặp người đã làm ra nó.
– Anh đã gặp ông ấy, và rồi hai người còn gặp nhau nhiều lần sau đó ?

F.M : Vâng, chúng tôi gặp nhau ở London, rồi Paris.. Ông ấy thường gọi cho tôi hàng ngày vào buổi sáng sớm khoảng 6h30. Tôi khá ngạc nhiên, thậm chí lúc đầu tôi còn nghĩ đó là một trò đùa..

– Bacon không phải là người đơn giản. Anh đã gặp ông ấy… Ông ấy vừa điên rồ vừa thiên tài nhỉ.

F.M : Đúng, đúng đấy, đó là một tính cách đa dạng. Ông ấy là người rất khó nắm bắt. Có thể nói đôi khi thậm chí là phi lý. Một họa sĩ phi lý vĩ đại..

– Một số nhà triết học cũng quan tâm tới ông ấy để tìm hiểu nhưng có vẻ ông ấy chả mặn mà gì. Riêng với anh, ông ấy đã tâm sự khá nhiều, đặc biệt là các cảm hứng sáng tác.. thậm chí cả những gì ông ấy đọc. Ông ấy đã nói với anh về những tác giả và những cuốn sách quan trọng với ông ấy ?

F.M : Ông ấy có nói về các tác giả khác nhau, trong đó khá nhiều nhà thơ. Bởi vì thơ là một sự cô đọng các ý tưởng cho ông ấy những loé sáng .. Nhưng không chỉ thế, không phải chỉ là cac tác giả lớn như Eliot hay Shakespeare, mà còn cả những hình ảnh trong phim, trong sách báo cũ .. được cảm nhận và diễn dịch theo cách riêng của ông ấy..

– Nhiều tác phẩm triển lãm kỳ này được sáng tác vào thập niên 70, không thể tìm các mối liên hệ trực tiếp giữa văn học và sáng tác của ông ấy. Có thể nói, có gì đó như là sự chuyển hoá ngôn ngữ viết thành hình ảnh trong nghệ thuật của ông ấy, được giải phóng thành các hình tượng ?

F.M : Đúng rồi, đó là một sự giải phóng.. đặc biệt ông ấy tìm kiếm những hình ảnh rất dữ dội trong những gì mà ông ấy có thể đọc.

Trích đoạn một cuộc phỏng vấn Bacon :
Francis Bacon :  » ừ tôi biết, tôi tạo ra nhữnh hình ảnh.. thế đấy.. những người khác có thể nói cái họ nghĩ về tranh tôi. Còn đối với tôi, khi vẽ xong thì tôi để đó và không nghĩ nữa ».
– Tôi thấy rằng một trong các bức chân dung ông vẽ Michel Leiris, người ta có thể nói ông phải cảm nhận sâu sắc về ông ấy thế nào mới ra được như vậy.
Francis Bacon : « Tôi hy vọng thế, tôi cũng không biết nữa. Thế đấy ! Nhưng tôi vui là anh đã nghĩ vậy. Này anh, tôi vẽ những bức tranh này cho chính tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ sống bằng tranh đâu. Tôi vẫn nghĩ sẽ cố gắng làm việc khác ».
– Tôi biết là ông đã huỷ khá nhiều bức họa.
– Francis Bacon : Ừ.. cũng kha khá..
– Ông là một hoạ sĩ rất khó tính và đòi hỏi cao với chính mình ?
– Francis Bacon : « Cần phải vậy .. mà anh biết đấy, trong hội họa, những người sáng tạo giỏi đều là những nhà phê bình rất ác. »

– Ông ấy huỷ tranh.. Ông ấy đã rất nghiêm khắc với bản thân, hay ít ra là với chính các sáng tác của mình.

F.M : Vâng, ông ấy huỷ khá nhiều tranh. Ông ấy cũng nói với tôi như vậy..

– Vì sao thế ?

F.M : Vì sao ư ? Bởi vì tôi nghĩ ông ấy có những suy nghĩ khá sâu về nghệ thuật, đặc biệt là hội hoạ.. Vào khoảng thập niên 20 khi thấy những bức tranh của Picasso, có gì đó đã xảy ra trong ông ấy, ông ấy nói muốn trở thành hoạ sĩ. Trước đó ông làm về nội thất…

– Dù sao ông ấy cũng đã được công nhận khá sớm, chứ không bị hắt hủi, bị lãng quên như nhiều họa sĩ đương thời khác..

F.M : Không, không giống như đời Vangogh đâu… dù sao cũng có khá nhiều điểm chung với Vangogh đấy nhé, chẳng hạn trong những chấm phá, trong cách vẽ.. cũng gần gần một vài hoạ sĩ khác nữa, nhưng nhìn chung cũng có khá nhiều nét Vangogh trong đó.

– Người ta từng bàn luận về những ảnh hưởng văn học trong các sáng tác của ông ấy và tự hỏi không hiểu có sự diễn dịch hình tượng trong tranh từ ảnh hưởng văn học qua những gì ông ấy đã đọc không, nhưng có một bức tranh mà sau này anh phát hiện trong xưởng vẽ của ông ấy, bức đó có cảm hứng trực tiếp từ thơ của Garcia Lorca về cái chết đúng không ?

F.M : Vâng, ông ấy có nói với tôi lúc đó. Ông ấy mời tôi tới xưởng vẽ, nói là xưởng chứ đó là một căn phòng nhỏ như nhiều căn phòng bình thường khác thôi. Ông ấy đang vẽ dở bức đó và định quay nó úp vào tường để tôi khỏi thấy. Thế là tôi hỏi luôn: cái gì thế ? Ông ấy bảo: .. à, đó là bài thơ của Garcia Lorca về cái chết của con bò tót. Cực kỳ dữ dội và kinh hoàng… Ông ấy nghiên cứu sự tàn bạo, ông ấy cho rằng cuộc sống rất tàn nhẫn và vẽ như thế là còn nhẹ hơn hiện thực rất nhiều…

– Đúng là chúng ta thấy các chủ đề trong tranh ông ấy về sự tàn bạo, về cơ thể con người, sự dễ tổn thương, về cái chết, và thân phận con người..

F.M : Đúng đấy, có thể tóm gọn lại là những thân phận con người… Hiển nhiên là vậy.

– Tôi không biết anh có sở hữu một bức Bacon ở nhà không..

F.M : Ồ, không không… (cười bối rối)

– Có thể là một bức chép lại hay affiche trong phòng khách chả hạn ?

F.M : Không, trước đây tôi có một bức trong nhà tắm.. (cười)

– Nếu như phải chọn một bức của Bacon, anh sẽ nói…

F.M : Có thể là một bức về Đóng đinh trên thập giá hay một bức về sóng biển ông ấy vẽ giai đoạn cuối, hay là một nhân vật kiểu chủ ngân hàng… nhưng dù gì thì nó cũng kể câu chuyện về sự khốc liệt của các bản thể, trong những trạng thái thất thần, cô đơn tuyệt vọng … Ngay cả khi ông ấy vẽ một con vật như con chó chả hạn ..

– Những khốc liệt thực tế đó trong đời sống đã tác động ông ấy .. Bacon cũng ảnh hưởng nhiều từ văn học, nhưng chính ông ấy cũng là nguồn cảm hứng cho các nhà văn. Vậy anh thấy gì ở ông ấy ? Có sự đồng điệu nào mà anh đã kết nối và phát triển cùng ông ấy ? Có vẻ cũng khá trầm và nặng phải không ?

F.M : Vâng, khá nặng đấy ! Không có sự thư giãn ở tranh của Bacon đâu, nhưng nó rất tuyệt vì có biết bao thứ mà ta có thể tưởng tượng, nó vừa vô lý vừa bí ẩn.. nó cho những khả năng mà mỗi người đều có thể thấy mình ở đâu đó…Mà không phải là chỉ tưởng tượng đâu. Cuộc sống riêng của ông ấy thậm chí còn tệ hơn cả những gì ông ấy vẽ nữa ý chứ, ít nhất cũng có 3 vụ tử tự kinh khủng của những người gần gũi thân cận nhất với ông ấy ..

– Vâng, như anh viết, ông ấy dễ vỡ, nhưng cũng cực kỳ lịch lãm và nồng hậu. Người ta cũng không thể tả ông ấy như yêu quái được 🙂

F.M : Tôi nghĩ rằng ông ấy có tính cách đa đạng, nhiều góc cạnh. Ông ấy hoàn toàn có thể là một người lịch lãm, tế nhị ở mặt này, và rồi bốc đồng, hung hăng ở một mặt khác.

Trích lời Bacon: « Tôi vẽ theo figuratif (phong cách biểu hình) bởi vì tôi chả quan tâm đến trừu tượng, và tôi nghĩ mục đích của hội họa không phải là để trang trí. Nên nhớ, nghệ thuật là nhân tạo. Ừ cũng có một khía cạnh trừu tượng nào đó, nhưng figuratif muốn đi xa hơn, bởi vì sau cùng thì trừu tượng chả có lý gì trong khi với figuratif ta luôn có lý do để bắt đầu và trở lại, trở lại với sự thật bằng cách đi vòng, một đường vòng lớn.. »

– Bacon đã đi một vòng lớn. Còn nhà văn Maubert thì từng kể về những tai nạn, sự tình cờ, tính ngẫu nhiên.. trong quá trình sáng tạo của ông ấy.

F.M : Điều đó rất quan trọng. Người ta đã nói nhiều về các sự kiện tình cờ, những tai nạn trong cuộc đời ông ấy. Ông ấy cũng là một tay chơi lớn đấy nhé. Ông ấy từng chơi sòng bài nơi mà phần nhiều là các ngẫu nhiên may rủi tình cờ, so với các trò khác..- Người ta có thể nói về tranh Bacon, về những góc tăm tối tàn bạo nơi con người. Ông ấy lột trần sự tàn bạo .. Có gì đó gần với Caravage ở mức độ căng thẳng, như ông ấy vẫn nói « chạm tới hệ thần kinh của nguời xem ».

Olivier-Giesbert : « Tôi rất phục Bacon, nhưng tôi nghĩ gần như là không thể nào mà yêu đuợc. Thật khủng khiếp khi phải thấy những gì trong tranh của Bacon..Tôi không biết có chịu được không. Tôi thích sống trong thế giới của Cézanne, có lẽ tôi thích sống trong những bức tranh bình yên hơn.. Chứ mà có một bức của Caravage hay Bacon trong nhà thì … kiểu như bắt buộc phải nghĩ về cái chết từng giây phút một ý. »

Nhà văn Yannick Haenel: « cái yếu tố kịch tính trong tranh của Caravage từ nền đen sẫm của thế kỷ 16, chúng ta thấy lại trong tranh Bacon, hoàn toàn cách biệt với tính lý tưởng hoá. Tôi nghĩ cả Caravage và Bacon đều căm ghét chủ nghĩa lý tưởng. Họ từ lâu đã hiểu thời Phục Hưng qua rồi, và sự hoà hợp của đời sống với trang trí chỉ là giả dối. Cả hai đều chống lại sự giả dối đó bằng hành động. Cơ thể thì trần trụi , bộ phận sinh dục phơi ra đó, tính khốc liệt tự nó mang sự liên kết xã hội.. Và họ vẽ điều đó chứ không phải là yêu thích điều đó. Họ không phải là những người đứng về phía thiện hay phía ác. Cũng như nhiều nghệ sĩ lớn khác, họ chứng kiến một cách mãnh liệt những gì diễn ra. »

Vẽ – đối với Bacon là một nhu cầu sống còn, như anh cũng đã nói: « Nghệ thuật là một tiếng thét để tuyên chiến với sự ngột ngạt. »

Bài hay quá nhưng dài nên tạm dịch các ý chính để lưu giữ. Bạn nào cần thì xem bản gốc ở đây nhé.

https://www.youtube.com/watch?v=fZTO3nK11ds

Unique
Mensuellement
Annuellement

Make a one-time donation

Make a monthly donation

Make a yearly donation

Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:

€5,00
€15,00
€50,00
€5,00
€15,00
€100,00
€5,00
€15,00
€100,00

Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:


Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

Your contribution is appreciated.

DonateDonate monthlyDonate yearly

Diogenes – nhà triết học cá tính nhất Hy Lạp

Alexandre Đại đế là nhân vật nổi tiếng nhất thời La Mã cổ đại với các trận chinh phạt mở rộng lãnh thổ tới tận Trung đông, thậm chí cả một phần vùng ngũ hà của Ấn độ, sát nhập hơn 70 thành phố trong đó chiếm Alexandrie năm 331. Diogenes là nhà triết học cá tính nhất Hy Lạp thời đó. Hơn 300 năm trước công nguyên, Diogenes đã tuyên bố mình là công dân thế giới và không muốn bám vào một nơi nào. Có hôm Ngài còn thắp một cái đèn đi vào phố giữa ban ngày « để tìm một con người trung thực » 🙂 Theo truyền thuyết, Alexandre Đại đế đã tìm tới thăm Diogenes khi ông đang sưởi nắng. Cảm phục thần thái và khí chất của Diogenes, Alexandre Đại đế có ngỏ lời muốn giúp gì đó cho nhà triết học nổi tiếng này (vì ông hay sống đời lang thang khất thực). Diogenes chỉ nói: Ít nhất ngài có thể dịch sang một bên được không ? Ngày đang đứng che ánh nắng của tôi  » . Cảm phục sức mạnh tự tại của Diogenes, Alexandre Đại đế thốt lên: Nếu ta không phải Alexandre Đại đế, ta ước được là Diogenes ! Nhiều nguồn tin cho rằng cả hai nhân vật nổi tiếng này chết cùng ngày. Có điều Diogenes lúc đó khoảng gần 90 tuổi, còn Alexandre lúc đó 33 tuổi, chết do bị sét đánh. Điều trớ trêu là sau khi chết, đế quốc hùng vĩ của ông đều bị các tướng lĩnh chia cắt ra thành các quốc gia nhỏ 🙂 Hai trăm năm trước đó, phía bên kia địa cầu, Lão Tử đã nhận biết: Không dám đứng trước thiên hạ thì mới làm chủ được thiên hạ… Người giàu là người biết đủ, người giỏi là người biết dừng đúng lúc. (27/3/2019)

(tranh minh hoạ: cuộc gặp gỡ giữa Diogenes và Alexandre (tranh của Cornelis de Vos, họa sĩ Bỉ, phái Baroque)