Cái thế giới này nó cũng khùng khùng. Nhân loại thì vẫn đang trong trạng thái u u mê mê… chưa đạt đc sự cân bằng và phát triển bền vững, vẫn nhảy từ thái cực này sang thái cực khác. Sau chiến tranh, thế giới « văn minh » ra sức cổ vũ cho lối sống hưởng thụ các kiểu con đà điểu.. dưới tên gọi mĩ miều « chủ nghĩa nhân văn ». Cứ promote dục vọng thỏa mãn phần con phần quỷ cho lắm vào, rồi giờ lại lật đật tìm mọi cách để giảm dân số. Xong lúc gần chết đến nơi thì lại diễn concert free để… chết cho nó sang . Shakespear với Voltaire sống lại cũng vái cả nón 🤣
Auteur : vanle7
Munch: Nghệ thuật là niềm khát vọng kết tinh của con Người.
Edvard Munch (1863-1944) là một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất Bắc Âu. Giữa chủ nghĩa biểu tượng đang trào lưu lúc đó và chủ nghĩa biểu hiện sơ khai, tác giả của kiệt tác « Tiếng thét » (Le cri) là một họa sĩ của tâm hồn và cảm xúc. Chủ nghĩa bi quan nơi ông cũng không xa triết học của Arthur Schopenhauer, Friedrich Nietzsche, cũng như thơ của Mallarmé. Trong các tác phẩm của mình, ông tiếp cận chủ đề về cái chết, sự hoảng sợ, nỗi đau.. một cách trữ tình hơn là hiện thực. Trong không khí của cái bị gọi là « sự suy đồi cuối thế kỷ », Munch đã sáng tác một tác phẩm có tính tiểu sử sâu sắc và là một trong những bức độc đáo nhất của phong trào biểu tượng.
Ông nói: « Nghệ thuật là niềm khát vọng kết tinh của con Người. »
Edvard Munch ra đời tại Oslo. Ông được đặt tên Christiania cho tới năm 1925. Bố ông là một bác sĩ quân y và gia đình nói chung khá giả. Tuy nhiên, từ nhỏ Edward đã phải đối mặt với cái chết của mẹ và một người chị, nên tính cách ông khá yếu đuối và hay lo âu bất an. Ông được một bà dì nuôi dạy, người đã khuyến khích ông phát triển tiềm năng hội họa của mình.
Niềm khát khao trở thành họa sĩ lớn dần, ông bắt đầu theo học vẽ tại Học viện Hoàng gia, sau khi từ chối khoá học kỹ sư . Năm 20 tuổi, ông đi du lịch châu Âu, đến Berlin, Paris.. nhờ có học bổng. Chính tại thủ đô nước Pháp, ông đã biết đến các họa sĩ tiền-ấn-tượng, đặc biệt là các tác phẩm của Paul Gauguin và Vincent Vangogh.
Trở về Na Uy, Munch thường lui tới các chốn phóng túng và giao thiệp với những người theo chủ nghĩa vô chính phủ. Cá tính bất an đẩy ông khám phá các chủ đề hỗn tạp và quái dị. Ông đã chịu các cơn ảo giác, sự ghen tuông quá đà, rồi vẽ một bức tranh có tên « Đứa trẻ bệnh tật » (L’enfant malade – 1885). Ngày thứ hai tại Paris, ông nhận tin cha mất, điều khiến tinh thần ông một lần nữa bị đảo lộn.
Munch là một họa sĩ của cảm xúc nhưng cũng rất ma mị. Các chủ đề của ông thường dò vào ngóc ngách tăm tối nhất trong tâm lý con người, nơi những hoảng sợ, những ám ảnh, những đau đớn .. ẩn trốn. Những chủ đề của ông thuờng đến từ những suy tư tự vấn về sự tồn tại của chính bản thân. Mỗi tác phẩm đều thấm đẫm một tâm lý căng thẳng trong im lặng. Các triển lãm của ông khiến công chúng bối rối.
Càng như vậy thì ông càng nổi tiếng, nhất là ở Đức. Ở Berlin và Paris, Munch cũng phát triển tài hoa trong mảng chạm khắc và in khắc gỗ. Nhưng cái chết tiếp tục không buông tha ông. Năm 1895, ông lại mất một người anh trai và một người em gái thì phải nhập viện tâm thần. Ông cũng không hạnh phúc trong các mối tình của mình. Ông từng có một mối tình khá say mê với một phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc – Tulla Larsen. Sau khi chia tay, ông rơi vào trầm cảm.
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới, Munch sống không xa Oslo. Ông mua một căn nhà ở Skoyen, từ đó trở thành nơi ở và xưởng vẽ của ông. Trong không gian của riêng mình, Munch để tâm vẽ rất nhiều tranh phong cảnh.. Sức khoẻ yếu dần, và thị lực của ông bị rối loạn, rồi Đức quốc xã xâm chiến Na Uy và nhiều nguồn tin cho rằng ông bị chúng sát hại. Ông mất năm 1944, sau khi hoàn thành tác phẩm về thành phố Oslo.
Tác phẩm bất hủ : Tiếng thét (1893-1917).
Munch đã thực hiện khoảng 5 phiên bản về chủ đề sự hoảng loạn đó. Lấy cảm hứng từ một lần đang đi dạo, họa sĩ trình làng một nhân vật trông như xác ướp với hai tay bịt tai. Ông ta đang tìm cách thoát khỏi một tiếng kêu không thể chịu đựng nổi nữa ? Ông ta vừa là nhân vật chính vừa là nạn nhân vô danh của một cảnh khủng khiếp. Bầu trời thì đỏ quạch và dông bão, có lẽ cảm hứng từ một hiện tượng khoa học thực tế: tro bụi bay tung lên không trung từ một vụ phun trào núi lửa ở Indonesia, dội tới tận những vùng bắc Âu. Đó là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật, được khắp nơi diễn dịch và bắt chước.

Munch từng tâm sự về cảm xúc sáng tác bức họa nổi tiếng này: « Lúc đó tôi đi dạo với hai người bạn, mặt trời đang lặn, bỗng nhiên bầu trời chuyển sang đỏ quạch như máu, tôi dừng lại, cảm thấy kiệt sức, tôi vịn vào thành cầu .. nó như có máu và những lưỡi lửa phủ lên mặt vịnh đen xẫm của thành phố.. Các bạn tôi vẫn đi, còn tôi dừng lại, run lên vì sợ hãi… Tôi nghe như có một tiếng kêu thất kinh xuyên thấu vũ trụ.. »
Ma cà rồng (Vampire – 1893)
Bức tranh về người đàn bà màu đỏ không loại trừ các yếu tố gợi tình, nhưng người đàn bà hiện ra ở đó trong tư thế của một kẻ cầm chịch nguy hiểm và tàn nhẫn. Làn tóc xõa ra phủ lên người tình và cô ta bắt đầu nhấm nháp một nụ hôn chết chóc. Trong khi thể hiện người đàn bà đáng gờm với mái tóc xõa, Munch cho thấy đó chỉ là một cảnh riêng tư. Cặp đôi đồng nhất trong một dạng trói buộc nhau, một kiểu trốn tránh báo trước số phận thảm khốc.
Chân dung tự hoạ, giữa đồng hồ và giường (1940 – 1943)
Edvard Munch đã thực hiện khá nhiều bức chân dung tự họa trong suốt chặng đường sự nghiệp của mình. Trong một bức vẽ muộn sau này, hoạ sĩ tự thể hiện mình như một tù nhân của thời gian, bị mắc kẹt giữa các giờ đồng hồ trôi đi một cách vô vọng và chiếc giường (nơi sinh và nơi chết). Già nua và cô đơn, bị đông cứng trong một sự bất động chết chóc. Mặc dù xuởng vẽ khá sáng đèn và đầy tranh (biểu tượng của đời nghệ sĩ), bóng cây thập tự in xậm xuống nền dưới chân họa sĩ, như một tuyên bố về cái chết của riêng ông.
dịch từ tạp chí BeauxArts, số 450.
Make a one-time donation
Make a monthly donation
Make a yearly donation
Chọn số tiền bạn muốn ủng hộ:
Hoặc tự điền số tiền bạn muốn ủng hộ:
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
Your contribution is appreciated.
DonateDonate monthlyDonate yearlyHoạ sĩ Đại Giang: « tôi muốn nói về cái mênh mông, cái vô tận của vũ trụ »
Trong nghệ thuật, không nên nhìn một cách phiến diện. Trường hợp của họa sĩ Đại Giang, câu quote này mang một ý nghĩa mới. Nói một cách văn vẻ, Nguyễn đã xoay đầu nghệ thuật.
Nếu bạn có xu hướng nghiêng đầu khi ngắm một bức tranh, hãy chuẩn bị để nghiêng nhiều hơn khi bạn xem một trong các tác phẩm của ông, dù sau đó có thể bạn sẽ bớt nghiêng đi. Nghệ thuật của Nguyễn không phải là thứ đóng khung – điều mà bất cứ hoạ sĩ nào cũng sợ như sợ dịch bệnh. Ông vẽ theo phong cách đảo – hay còn gọi là trường phái đảo ngược. Hoạ sĩ gốc Việt không chỉ đơn thuần đi theo mục tiêu này, ông đã sáng tạo và phát triển một trường phái nghệ thuật riêng.
« Bản chất con người có tốt có xấu, có đúng có sai. Nghệ thuật đảo ngược giúp chúng sống hài hoà với nhau, ngày và đêm » – Nguyễn phát biểu về phong trào nghệ thuật đã thu hút sự theo dõi đông đảo khắp nơi trên thế giới. Hàng trăm ngàn người từ hơn 25 quốc gia thường xuyên thăm trang web của ông, hàng chục nghệ sĩ đã trực tiếp đến thăm ông tại studio riêng ở Seattle để thực hành nghệ thuật upsidedown, một nghệ thuật mà ông khám phá từ năm 1996, hai năm sau khi tới định cư ở Mỹ.
« Sống giữa một cộng đồng cả người Mỹ và Việt trong khi thấy thế giới thường xuyên thay đổi ra sao, concept nghệ thuật của tôi đã trở thành cái nhìn hàng ngày » – nghệ sĩ 67 tuổi nói. « Cho tới nay, nhiều hoạ sĩ vẫn vẽ kiểu một chiều. Nghệ thuật upsidedown khao khát diễn đạt những khía cạnh khác nhau của cảm xúc con người: cả niềm vui và nỗi buồn, sự sống và cái chết. » Nguyễn nói rằng các bức tranh của ông chứa đựng cả những điều có lý và vô lý. « Không phải là tôi bênh những thứ vô lý, mà tôi muốn nói về cái mênh mông, cái vô tận của vũ trụ. » Ông khẳng định : « Nói một cách khác, upsidedown chính là từ cuộc sống ». Ông viết trong bản tuyên ngôn của trường phái Upsidedown: « Trong cuộc sống, có mầm của cái chết… Hai vế đó là sự thật hiển nhiên của đời sống. Đúng và sai, sống và chết, hạnh phúc và đau khổ… Không có gì là vĩnh cửu, không gì là không thể biến đổi, không có gì là ổn định. »
Hai mặt của sự thật
Chẳng có gì là vấn đề đối với những người chơi ô ăn quan, một trò chơi rất phổ biến của trẻ con Việt nam, mà Nguyễn miêu tả trong một tông màu ấm áp, nơi người chơi có thể thắng hoặc thua bất cứ lúc nào. Bạn cũng sẽ có cảm xúc tương tự khi ngắm bức « Năm Mới » (New Year) với những cơ thể đang nhảy múa sôi nổi trong khi gương mặt họ lại kể một câu chuyện khác, cứ như họ đang nói « càng nhiều hạnh phúc, càng nhiều khổ đau » vậy (so much happiness, so much sorrow). Xuyên qua những hình tượng như vậy, nghệ sĩ phản ánh sự thay đổi nhanh chóng đang diễn ra trên thế giới và các tác động của nó tới đời sống con người. Trên tranh của ông, vô thức gặp gỡ ý thức, và cả hai đều tỉnh táo. Các nhân vật và vị trí của họ thay đổi tuỳ góc nhìn, tuỳ vào việc cuộc sống đưa đẩy họ nơi đâu. Sự thay đổi được nhấn ở các vị trí mắt, mũi, miệng, tay và chân.. Bên trong trở thành bên ngoài, trên trở thành dưới, to lớn trở thành nhỏ bé và ngược lại. Nguyễn nói với tôi rằng dù chân dung đã « được thay đổi, vặn vẹo, nhìn không thuận mắt », nhưng cái cơ bản và cá tính của nhân vật đó vẫn đúng là họ. « Một nghệ sĩ upsidedown sáng tạo không biên giới giữa đúng và sai, xấu và đẹp, cơ thể và phi cơ thể » – ông nhấn thêm – « đó là một cuộc hôn nhân mãnh liệt giữa cái có lý và cái vô lý, nơi mà những thứ vô hình sống chung với cái hữu hình ».
Một trong những ví dụ khác rõ hơn để minh họa tính phi logic là bức sơn dầu Sleeping (Đang ngủ – 2008), nơi chúng ta thấy những hình khối tuyệt vời trông hơi quái dị, không rõ là đàn ông hay đàn bà. Ở đây chúng ta nhớ tới trường phái lập thể của Picasso, trừu tượng của Morgan Russel, tính biểu tượng của Gustave Moreau, với những nét hào phóng của chủ nghĩa ấn tượng, siêu thực và vị lai.
Giống các tác phẩm của mình, Nguyễn như một con lắc, dao động giữa những mảng màu tươi sáng với những mảng trầm tối, trong khi vẫn chừa không gian cho các sự liên tưởng . Tác phẩm của Nguyễn đặc biệt chứa khá nhiều biểu tượng về sự thay đổi của quê hương ông và vai trò của người phụ nữ – những chủ đề yêu thích của ông trong hội họa. Đa số ông vẽ khoả thân, diễn tả những đường nét và gấp khúc với nhiều biểu tượng như một phần trong các nhận xét về cuộc đời của ông, phản ánh các chủ đề gợi cảm hứng cho ông trong hội hoạ, sự trần tục, xã hội và con người.
Mỗi tác phẩm thường ông vẽ trong 2,3 ngày hoặc một tuần, nếu phải chờ sơn khô. Dù là sơn dầu hay arcrylic, Nguyễn không bị bó buộc vào hai chất liệu này. « Nếu bạn là một họa sĩ upsidedown, bạn có thể sử dụng mọi chất liệu. » Ông cũng không trói mình vào một serie tranh mà thích vẽ riêng từng bức. Như các tranh chân dung, phong cách của Nguyễn cũng thay đổi. Dù ông thường vẽ trên những tranh khổ nhỡ, lúc này ông đang vùi mình trong một bức tranh tường có tên « Sinh, lão, bệnh, tử ». Mọi thứ không phải lúc nào cũng đảo ngược, phải trái đối với người hoạ sĩ gốc Hà Nội này. Nguyễn bắt đầu vẽ lúc 7 tuổi. Lên 10 ông đã biết sau này mình sẽ làm gì . Năm 1968 tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, ông sang Nga học và tiếp tục đạt bằng cử nhân nghệ thuật của Đại học Mỹ thuật Moscow năm 1974. Sau này tới định cư ở Mỹ ông tiếp tục theo học tại đại học ở Washington. Và không lâu sau đó, nghệ thuật của Nguyễn đã khiến công chúng và các nhà phê bình sửng sốt. Năm 1994, ông đoạt giải vàng tại cuộc thi nghệ thuật quốc tế tại bang Washington.
Giải thưởng khích lệ thêm sự đam mê nghệ thuật nơi ông. Ngay sau khi viết bản tuyên ngôn cho trường phái upsidedown của mình và đưa triết lý vào thực hành, ông đã lọt vào danh sách Who’s who in the World của tổ chức IBC (International Biographical Center), một tổ chức ghi nhận tiểu sử của các nhân vật có ảnh hưởng trên thế giới. Ông cũng đuợc chọn vào sách « 500 founders of 21st century » (500 nhà sáng lập thế giới thế kỷ 21) do J. Gifford và IBC tuyển chọn. Họa sĩ Đại Giang tiếp tục triển lãm tại Mỹ và một số nước châu Âu. Năm 2006, tác phẩm Mẹ và Con (Mother and Son) nhận giải đặc biệt tại cuộc thi nghệ thuật quốc tế ở Tây Ban Nha. Một năm sau, Ca trù – tác phẩm ông khắc họa những ca cầm Việt nam, đoạt giải Diploma of Excellence trong một cuộc thi quốc tế tại London. Nghệ thuật upsidedown của Nguyễn có mặt tại các bảo tàng nghệ thuật Voronezh (Nga), Seattle (Mỹ) cũng như trong các bộ sưu tập cá nhân ở Mỹ, Nhật, Canada, Hồng Kong, Bỉ, Việt Nam, Pháp..
Với phong trào nghệ thuật và triết lý mới của mình, Nguyễn đóng một vai trò quan trọng không thể phủ nhận trong giới nghệ thuật đương đại ngày nay. Và ông đã hoàn toàn xoay đầu nghệ thuật, thách thức con mắt và sự phán xét của chúng ta.
(Maha Majzoub – tạp chí RAGMAG, tháng 8/2011)

30/11/21: Một concert tự do ở ga trung tâm Bruxelles sau khi tin tức về biến chủng covid mới tràn ngập báo chí. Quang cảnh hao hao phân đoạn cuối trong phim Titanic 😅
Paul Delvaux- những giấc mộng bí ẩn giữa cổ điển và hiện đại
Paul Delvaux thuộc số ít các họa sĩ nổi tiếng của Bỉ được các nhà sưu tập tranh trong và ngoài nước tìm kiếm. Dù thị trường nghệ thuật Bỉ cũng khá sôi động, Delvaux chưa bao giờ tìm cách bán tranh. Ít nhất, đó cũng không phải là việc ưu tiên của ông. Ông đã giữ hầu như tất cả các tác phẩm và chờ khá lâu trước khi được chú ý đến vào thập niên 60. Năm 1967, với sự ra đi bất ngờ của Magritte, chính phủ nhận ra họ đã đánh giá tài năng của nghệ sĩ siêu thực khá muộn, liền quay sang chăm sóc Paul Delvaux bằng cách tổ chức các cuộc triển lãm cho ông ở nước ngoài. Nhờ sự hỗ trợ chính thức này, Paul Delvaux dần hút được danh tiếng quốc tế. Mặc dù chưa đạt được đỉnh cao vào thời đó, nhưng Delvaux đã kịp trở thành một họa sĩ không còn dễ mua nữa. Ngày 6/4/1967, Pénélope (một bức khổ 120 x 176cm) vẽ năm 1946 đã được định giá 9250 đô la tại nhà Parke-Bernet ở New York, trong khi bức La ville endormie (Thành phố mơ màng) – vẽ năm 1938, khổ 135 x 170 cm, được bán với giá 32000 bảng Anh tại nhà Sotheby’s ở London ngày 10/12/1969. Tác phẩm La légende égyptienne (Huyền thoại Ai Cập – 1953) được bán với giá 11500 bảng, sau đó hơn 4 năm được bán lại với giá gấp 3 (450.000 franc Pháp) tại Paris.
Danh tiếng của Paul Delvaux bắt đầu thăng hoa vào đầu thập niên 70 và kéo dài cho tới tận những năm 90. Tháng 5/1991 nhà Christies ở New York đã mua lại bức La ville endormie với giá 1 triệu 250 ngàn đô la.
La ville endormie – 1938
Delvaux không vẽ nhiều (chỉ khoảng 400 bức), do ông thường vẽ tranh khổ lớn và vẽ rất tỉ mỉ. Các nhà phê bình nghệ thuật cho rằng những sáng tác của Delvaux giai đoạn 1936-1950 là những tác phẩm quan trọng nhất, trong số đó khoảng 50 bức là tuyệt tác.
Những chủ đề trở đi trở lại trong tranh ông thường là: khoả thân nữ, kiến trúc cổ, tàu hoả, nhà ga.. Các tác phẩm của Delvaux có sự kết hợp ma mị giữa phong cách cổ điển và hiện đại, như một người bạn từng tả Paul « một người luôn đắm chìm trong những giấc mộng bí ẩn của riêng ông ». Paul Delvaux tâm sự: « đối với tôi, vẽ là một cuộc phiêu lưu khác. Sáng tác tranh là một ngiên cứu về sự cân bằng giữa không gian đa chiều, kết nối với nhau bởi những sợi dây vô hình ».
Dù chưa bao giờ nhận mình thuộc phái siêu thực, và được đánh giá là một họa sĩ nhiều chất thơ, nhưng Paul Delvaux vẫn được xếp vào dòng tranh siêu thực cùng Magritte René.
(nguồn: Arts Antiques Auctions hors series)
Bảo tàng Paul Delvaux chính thức được mở năm 1982. Do dịch bệnh Covid, bảo tàng hiện đóng cửa và sẽ mở lại từ 2/4/2022.
Dục tốc bất đạt !
Đi đâu mà vội mà vàng, mà vấp phải đá mà quàng phải dây –> Chúng ta không nên đi nhanh !
Trâu chậm uống nước đục !
Lề mề là tên ăn cắp thời gian, hãy tóm lấy nó ! –> chúng ta không nên đi chậm !
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt ! –> chúng ta không nên đi loanh quanh !
Haha… 🙂 🙂 🙂 Nhũn não 🙂 🙂 🙂
Những điều có thể bạn chưa biết về Marc Chagall.
1) Lớn lên trong một thế giới không có hội họa
Không thể nói là Chagall đã thấm đẫm trong thế giới hội hoạ ngay từ nhỏ. Sinh ở Vitebsk (Biélorussie) năm 1887 trong một gia đình Do thái truyền thống. Thời đó, vùng giữa Ba Lan và tây Nga, dòng đạo này bị cấm triệt để. Nhà Chagall lúc đó toàn những bức tường trống trơn..
Chagall lúc đó tuổi thiếu niên, bất chấp sự miễn cưỡng của gia đình, đã học vẽ trong xưởng của Yuri Pen (cũng là thầy của Ossip Zadkine và El Lissitzky), trước khi hoàn thành khóa đào tạo của mình với Léon Bakst ở Saint Petersburg vào những năm 1900. Cũng không có nghĩa là tuổi thơ không ghi dấu ấn trong nghệ thuật của ông: văn hóa dân gian Do Thái, âm nhạc Yiddish và kiến trúc Vitbesk hiện diện khắp nơi trong các tác phẩm của Chagall.
2) Ở Paris, ông khoả thân khi vẽ…
Chả phải điên rồ hay khiêu khích gì, mà thực tế nó phải vậy. Giống nhiều đồng hương của mình, Chagall dành chiến thắng ở Paris với một bức lập thể nâu-vàng. Đến Pháp năm 1910 ông tới ở Laruche, nơi cùng với các đồng nghiệp là Amedeo Modigliani, Jacques Lipchitz và Chaïm Soutine, ông đã khuấy động « trường phái Paris » nổi tiếng. Chagall thậm chí còn tìm thấy sự hỗ trợ quan trọng ở Guillaume Apollinaire và thậm chí cả ở Blaise Cendrars. Nhưng « cơm áo không đùa với khách thơ » và gã nhập cư Chagall đã phải đối mặt với cuộc sống du mục. Nhịn ăn thường xuyên, Chagall không muốn tốn phí giặt là quần áo và đó là lý do ông hay khoả thân khi vẽ: để không làm vấy bẩn vài bộ quần áo trong tủ quần áo héo hon của mình.
3) Là giáo sư ở Vitebsk, nhưng ông bị Malevitch tiếm quyền.
Sau chuyến thăm Đức từ năm 1913 đến 1914, chiến tranh buộc Chagall phải trở về Nga. Lúc đầu nhiệt tình, ông coi cuộc Cách mạng năm 1917 là một cơ hội để cải cách việc giảng dạy nghệ thuật. Được bổ nhiệm làm Ủy viên Mỹ thuật vào năm 1918, ông thành lập một trường nghệ thuật ở Vitebsk. Để xây dựng một phương pháp sư phạm quanh các xưởng vẽ tự do, ông đã mời các học giả El Lissitzky và Kazimir Malévitch làm giáo sư nhưng sau đã hối hận. Sự trừu tượng của cả hai nhanh chóng được ưu tiên hơn phong cách Chagall, quá đậm các tham chiếu tôn giáo để có được sự ưu ái của các nhà chức trách. Và thế là, Chagall bị gạt ra và buộc phải từ chức để nhường chỗ cho Malevitch, người trở thành lãnh đạo trường từ năm 1922. Chagall không chần chừ đã quay lại Paris luôn, nhưng bản thân Malevitch sau đó cũng bị chế độ Xô Viết gạt ra ngoài lề.
4) Suýt thoát khỏi Shoah…
Khi cộng đồng của ông ở Vitebsk bị cô lập dưới thời Sa hoàng, Marc Chagall nhận thức rõ rằng rất khó để trở thành một người Do Thái ở châu Âu thế kỷ XX. Việc Hitler lên nắm quyền ở Đức vào năm 1933 đã làm dấy lên một mối đe dọa rõ ràng hơn nhiều. Họa sĩ tố cáo sự đàn áp người Do Thái của Đức quốc xã bằng cách liên kết cộng đồng của mình với hình tượng Chúa Kitô (qua bức La Crucifixion blanche, 1938). Cuộc đình chiến của Pétain, và sự đầu hàng Hitler đã khiến nhiều người Do Thái ở Pháp buộc phải kiếm giấy tờ giả hoặc giấy chứng nhận rửa tội, nhưng Chagall đã từ chối làm như vậy, do lòng tự trọng cao. Bị bắt vào mùa xuân năm 1941, ông nợ ơn cứu mạng của một nhà báo Mỹ dũng cảm Varian Fry, người tổ chức đưa các nghệ sĩ và trí thức sang Mỹ. Tên của Chagall chỉ được thêm vào danh sách 2.000 cái tên vào phút chót, nhờ sự năn nỉ của Alfred H. Barr, giám đốc đầu tiên của MOMA tại New York.
5) Từng dùng nghệ thuật của mình cho sự minh họa
Từ Manet đến Matisse, nhiều họa sĩ đã thử sức với lĩnh vực minh họa. Khi ở Berlin năm 1922, Chagall đã học về chạm khắc. Nhạy cảm với màu sắc, ông thực hiện những bức hoạ kiểu trẻ con với sự hài hước tinh tế. Ông muốn để chúng đối thoại với các văn bản, được rút ra từ các tác phẩm kinh điển và văn học đương đại. Trong số những cuốn sách đẹp nhất do Chagall minh họa, có Những linh hồn chết của Gogol năm 1948 và Ngụ ngôn La Fontaine năm 1952, cả hai đều là sở hữu của nhà sưu tập Ambroise Vollard. Nhưng chính nhà xuất bản Tériade đã mang đến cho ông sự hợp tác tuyệt vời nhất, với năm đơn đặt hàng từ năm 1948 đến năm 1967, trong đó cuốn Kinh Thánh, xuất bản năm 1956, chắc chắn là một trong những kiệt tác của họa sĩ.
6) Huyền bí hơn cả tôn giáo, hành trình tâm linh của Chagall khá phức tạp
Chagall rất gắn bó với Do Thái giáo mặc dù ông tách khỏi sự nghiêm khắc tôn giáo của gia đình mình. Quan sát các nghi thức Công giáo và Chính thống giáo, cảm động với những bức họa Kitô giáo, sự liên hệ của ông với thần thánh không bao giờ giáo điều, nó còn thần bí hơn cả tôn giáo. Là một người đam mê nhập môn, Chagall đã tham gia Hội Tam điểm. Tại Paris, ông được Apollinaire giảng về thuật giả kim và các khoa học huyền bí và muốn hoàn thiện Do Thái giáo của mình qua phái kabbalistic bí ẩn. Cuối cùng, nghệ sĩ bắt đầu quan tâm đến các tôn giáo khác để giúp họ đối thoại tốt hơn, trong hành trình tìm kiếm chủ nghĩa phổ quát mà minh chứng đẹp nhất là những ô cửa kính màu. Ở Metz cũng như ở Reims, ông đã thể hiện là một trong những nhà cải cách vĩ đại nhất của thế kỷ 20.
(dịch từ Beaux-Art Magazine số 447)
https://www.beauxarts.com/grand-format/ce-que-vous-ne-saviez-peut-etre-pas-sur-marc-chagall/?fbclid=IwAR1qRdHh_fwGXuvV_Q_E7gKlVfySYBTivibJAsBXF2cFjQcayW93Z1djasI